Thứ Sáu, 14 tháng 12, 2012


1. Núi chẳng dời thì ta dời!

Một ngày nọ đám đệ tử ham thích thần thông hỏi sư phụ:
- Đệ tử: Thầy ơi, thầy chỉ tụi con thuật di sơn đảo hải (dời non lấp biển) đi.
- Sư phụ: Được, vậy các con hãy đứng đây, chú tâm nhìn vào ngọn núi đằng kia... Thầy sẽ làm cho nó xích lại gần ta.
Đám đệ tử tập trung dòm núi suốt 3 ngày 3 đêm mà chẳng thấy có tác dụng gì cả,... khi thấy sư phụ từ trong nhà thong thả đi ra thì liền nhao nhao lên:
- Đệ tử: Thầy ơi, sao chẳng thấy ngọn núi đó động đậy gì cả vậy?
- Sư phụ: Vô dụng, vô dụng! Các con tu tập bao lâu rồi mà vẫn còn chấp cái ngọn núi!?!
- Đệ tử: Dạ chúng con không hiểu ạ.
- Sư phụ: Vậy thì đi theo ta, ta sẽ chỉ cho thấy.
Sau khi dẫn đám đệ tự cố chấp đến chân núi, sư phụ dừng lại bảo:
- Sư phụ: Các con đã thấy núi xích lại gần ta chưa?
- Đệ tử: Dạ gần, nhưng đó là do Thầy đi đó chứ...
- Sư phụ: Cố chấp, cố chấp! Chẳng phải là núi không thể dời đi, nhưng để dời nó đi một li, ta phải tốn công gấp tỉ lần ta đi tới nó. Vậy sao cứ phải cố chấp vào việc núi dời chi vậy?!


2. Chân lý tuyệt đối là cái lý có chân!

Hôm nọ, một đệ tử thích lôgic hỏi sư phụ:
- Đệ tử: Thưa thầy, con tu tập bao lâu rồi mà vẫn chưa tìm ra được cái chân lý tuyệt đối! :(
- Sư phụ: Vậy từ đó giờ con có thấy cái gì là hoàn toàn đúng không thể chối cãi được không?
- Đệ tử: Dạ có.
- Sư phụ: Con thử kể một cái như vậy ra xem.
- Đệ tử: Dạ, ví như chuyện sanh-tử, không có ai sinh ra đời rồi mà không chết đi cả.
- Sư phụ: Vậy đó chính là chân lý rồi đó thôi.
- Đệ tử: Nhưng thưa Thầy, chân lý đó chưa là tuyệt đối, vì có người nói là có thể trường sinh bất lão. Thậm chí có người còn đưa ra bằng chứng về một người sống suốt mấy ngàn năm nay vẫn chưa chết.
- Sư phụ: Vậy con có tin không?
- Đệ tử: Dạ con không tin, nhưng không có cách nào phản bác họ được.
- Sư phụ: Con tin, tức đó là chân lý của con vậy.
- Đệ tử: Dạ thưa... Nếu chỉ là chân lý của con thì sao gọi là tuyệt đối được ạ?!
- Sư phụ: Cố chấp! Cái "chân lý tuyệt đối" con tìm chẳng qua chỉ là cái lý có chân mà thôi!
- Đệ tử: Dạ, xin thầy giảng cho con được rõ hơn ạ.
- Sư phụ: Này nhé, ta có thể đưa ra một chân lý khác mà nhiều người chấp nhận hơn, và cho đến hết đời này con cũng không tìm ra được ai phản đối nó cả, nhưng đó cũng chẳng thể tuyệt đối như con muốn được. Chân lý là sản phẩm của con người, là phát biểu của con người về thế giới, tất phải phụ thuộc vào người / nhóm người phát biểu nó. Hễ khi nào con còn chấp vào hai chữ "tuyệt đối" thì chẳng bao giờ con tìm ra được chân lý, hoặc là chúng nó phải có chân để chạy đi từ người này qua người khác, từ quan điểm này qua quan điềm khác vậy.

Lời mẹ dặn con gái trước khi đi lấy chồng được lan truyền trên mạng

Sưu tầm từ Internet

Bằng tất cả kinh nghiệm, tình thương và sự lo lắng cho cô con gái bé bỏng sắp phải tự mình bươn trải cuộc sống, người mẹ đã dặn dò con gái từng chi tiết nhỏ nhặt. Việc nhà thu vén ra sao, ứng xử với chồng như thế nào, dạy con thế nào cho tốt…, dường như người mẹ đã nhìn thấy trước tất cả khó khăn mà con gái yêu quý sẽ phải đương đầu.

Mẹ bảo, lúc giận đừng có cãi nhau, có thể không nói gì, không giặt quần áo của chồng, nhưng không được cãi nhau với chồng.

Mẹ bảo, cãi nhau với đàn ông thì đừng có chạy ra ngoài mà oang oang khắp nơi, anh ta tiến về phía con một bước thì con hãy bước về phía anh ta hai bước.

Mẹ bảo, ngôi nhà chính là chỗ đóng quân của người phụ nữ, cho dù có xảy ra chuyện gì thì cũng đừng có bỏ đi. Bởi vì, đường trở về rất khó khăn.


Mẹ bảo, hai người trong nhà đừng có lúc nào cũng chỉ nghĩ đến sĩ diện, hai người sống với nhau, sĩ diện quan trọng lắm sao? Nếu thế thì ra ngoài sống thế nào được?

Mẹ bảo, bất kể một người đàn ông giàu có, nhiều tiền như thế nào thì anh ta vẫn hi vọng có thể nhìn thấy con sạch sẽ thơm tho ở trong một ngôi nhà sạch sẽ tươm tất và đợi anh ta.

Mẹ bảo, đàn ông tốt rất nhiều, anh ta sẽ không bao giờ đi ôm người phụ nữ khác. Nhưng trong cái xã hội như thế này, có rất nhiều phụ nữ xấu sẽ dang tay ra ôm lấy người đàn ông của con.

Mẹ bảo, phụ nữ nhất định phải ra ngoài làm việc, cho dù là kiếm được nhiều hay ít, làm việc chính là sự thể hiện giá trị cuộc sống của bản thân. Nếu con cứ ở nhà mãi, anh ta sẽ có cơ hội nói trước mặt con rằng: “Tôi đang nuôi cô đấy.”

Mẹ bảo, con đi làm bên ngoài, dù có bận lắm là bận thì vẫn phải làm việc nhà, nếu không thì dùng tiền của mình mà tìm một người giúp việc theo giờ. Việc trong nhà nhất định phải lo liệu tốt, con cái cũng phải nuôi dạy cho tốt.

Mẹ bảo, anh ta vì con mà làm những việc mà con không bao giờ ngờ tới, con có thể cảm động, có thể khen ngợi, nhưng nhất quyết không được châm chọc kiểu “hôm nay mặt trời mọc đằng tây rồi hay sao”, vì nếu như vậy, sau này anh ta sẽ không bao giờ làm bất cứ việc gì vì con nữa.

Mẹ bảo, chẳng có ai là một nửa của ai cả, ý nghĩ của con mà không nói ra thì ai mà biết được? Cần cảm nhận cái gì, ghét việc gì, con phải nói ra thì người ta mới hiểu được.

Mẹ bảo, bố mẹ anh ta cũng là bố mẹ con, cho dù bố mẹ anh ta đối xử với con không được tốt cho lắm, thì con cũng phải đối tốt với họ. Bởi họ là bố mẹ của anh ta.

Mẹ bảo, một khi đã quyết định sống cùng người đó rồi, thì đừng có oán thán cuộc sống khó khổ, nếu như con đã chọn anh ta, thì đừng có oán trách anh ta.

Mẹ bảo, nhiều tiền như thế thì có tác dụng gì, anh ta đâu? Anh ta đang ở đâu?

Mẹ bảo, cả đời này chúng ta có thể tiêu hết bao nhiêu tiền? Đừng mua những đồ xa xỉ mà làm gì, sống hạnh phúc là tốt rồi.

Mẹ bảo, đừng có dọa con cái là “mẹ không cần con”, lúc cáu giận đừng có đuổi con cái ra khỏi nhà, chẳng may không thấy nó thật, con sẽ rất đau khổ.

Mẹ bảo, đừng đánh con cái, lại càng không nên lôi ra ngoài mà đánh.

Mẹ bảo, tình yêu mà cứ đánh đấm đâm giết nhau đúng là mãnh liệt thật, cũng rất lãng mạn. Nhưng không thực tế. Cứ bình thường thôi là được.

Mẹ bảo, cái gì thì cũng đều là duyên phận cả.

Mẹ bảo, cuộc sống luôn thay đổi, phải biết trân trọng từng ngày.

Lời khuyên của người mẹ hiểu biết gây sốt cộng đồng mạng


Thứ Năm, 13 tháng 12, 2012

NHỚ MÃI LỜI EM HÁT


Lênh đênh mãi, ta tìm về chốn cũ
Tắm tháng năm qua se đẫm sương hồ
Mệt mỏi quá, ta nhớ thời xưa rủ
Một cõi đi về ru hoài niệm ngây thơ.

Ta mơ lại thuở bốn mùa hạ trắng
Nghe tiếng em buông sóng sánh đường về
Đêm khuya lạnh chợt rơi lời gọi nắng
Nhấp nháy tìm đau đáu nỗi xa quê.

Ta dấn bước trên đường đời ngọt đắng
Trĩu hai vai những quan hệ nhọc nhằn
Chợt bồng bềnh lời em ca sâu lắng
Bỗng thấy mình thanh thản, bâng khuâng.

Trong câu hát có giọt mồ hôi mặn
Chảy qua mắt rơi rã xuống ruộng bùn
Trong nốt nhạc có ngày hè rợp nắng
Thả vào trang lưu bút xa trông.

Ta mơ thấy giấc mơ là thác đổ
Những ngọn lèn xa xoa bóng lòng sông
Ta ngập tắm giữa núi đồi hoa đỏ
Ngắm mắt em say đắm mênh mông.

Em ngừng hát, ta vẫn còn nghe mãi
Trong trái tim, trong sâu thẳm tâm hồn
Ta quay lại với cuộc đời vạn dặm
Lạnh bình minh mà rực nóng chiều buông.

14-12-2012

Thứ Hai, 10 tháng 12, 2012

“Đừng yêu nước bằng máu của người khác!”


Sưu tầm từ baochi.edu.vn


Hiện nay, nhiều bạn trẻ đang hình thành thói quen lên các diễn đàn mạng, blog, mạng xã hội… phát biểu những lời “to tát”, đại ngôn, hô hào “suông” về lòng yêu nước mà quên đi những hành động thực tế…
Đã bao giờ bạn tự nhìn lại: Bạn đã hành động những gì để thể hiện lòng yêu nước? “Đừng yêu nước bằng máu của người khác” là một trong những bài viết gây nhiều tiếng vang nhất trên các diễn đàn internet những ngày vừa qua.
Bài viết của tác giả Bảo Anh Thái đã nêu ra một góc nhìn khác về việc thể hiện lòng yêu nước, khiến chúng ta không thể không suy ngẫm.
BCTT xin đăng tải bài viết để bạn trả lời câu hỏi: Bạn đã hành động thực tế để thể hiện lòng yêu nước của mình như thế nào?

Lòng yêu nước đôi khi chỉ cần thể hiện bằng niềm tự hào và những việc làm giản dị
“Ông ngoại tôi từng cầm mác búp đa, lưng dắt lựu đạn, cắt rào kẽm gai công đồn Pháp cùng với những người lính Nhật Bản tình nguyện theo Việt Minh thời chín năm. Chiến thuật của đơn vị ông rất đơn giản: Cắt rào, ném lựu đạn vô lô cốt và xung phong vào đánh giáp lá cà khi quân Pháp còn chưa hết choáng váng vì tiếng nổ. Ông tôi không kể về những tổn thất của đơn vị.
Khi tôi hỏi ông tôi là trong đơn vị có bao nhiêu lính Nhật, và sau chín năm, bao nhiêu người trong số họ trở về tổ quốc. Ông trả lời “Có chín người, sau chín năm, chẳng có ai trong họ còn sống”. Tôi không biết ngoài chín người Nhật đó, bao nhiêu người khác trong đơn vị ông đã chết.
Tôi hỏi ông: “Đơn vị ông không phải là đặc công (mà thực ra trong thời chín năm, khái niệm đặc công chưa có), sao các ông không dùng bazoka hoặc ít nhất là súng máy áp chế khi công đồn?”
Ông trả lời rất đơn giản là đơn vị ông không có bất kỳ vũ khí hỏa lực mạnh nào. Họ chỉ có 3 súng trường cho một tiểu đội và những người Nhật Bản tình nguyện chỉ dùng kiếm Samurai của họ.
Thời kháng Mỹ, ông tôi động viên con cái đi ra trận. Hai dì tôi đi thanh niên xung phong khi mười sáu tuổi. Sau chiến dịch Đường 9 Nam Lào và Quảng Trị, lần lượt 2 dì về nhà vì mất sức. Cả hai dì đều trọc đầu như sư đến nhiều năm sau tóc mới mọc lại.
Bác tôi, học ở Nga về làm cán bộ giảng dạy Bách Khoa nhưng rồi lại tình nguyện nhập ngũ. Tây Nguyên, Đường 9, Quảng Trị – giấy chứng nhận dũng sỹ diệt Mỹ và dũng sỹ diệt xe cơ giới gấp phồng túi ngực (theo đúng nghĩa đen).
Khi từ miền Bắc vào Nam, bác tôi mang theo 90 viên đạn của cây súng bắn tỉa. Khi giải ngũ, bác đã bắn 52 viên, trong đó 4 viên trượt. Bác tôi và người em kết nghĩa đã bỏ cả ngày trời bò qua cả một cái trảng lớn nằm giữa vùng ranh giới giữa hai bên để bắn một phát đạn với tầm gần 900 m làm bị thương viên tướng chỉ huy một sư đoàn quân đội Sài Gòn trong cuộc họp bộ tham mưu của sư này hồi Quảng Trị năm 1972.
Bác tôi là một trong 16 người cuối cùng rời thành Quảng Trị bơi vượt sông Thạch Hãn và tên của bác tôi có trong viện Bảo tàng Quân đội. Những người chỉ huy trận Quảng Trị nay đang lãnh đạo Bộ Quốc phòng đều nhớ đến bác tôi.
Ông ngoại tôi giờ đã 94 tuổi, bác và các dì tôi đều đã về hưu.
Không một ai đại ngôn về lòng yêu nước.
Thậm chí, tôi chưa bao giờ nghe từ đó trong các câu chuyện của họ.
Đơn giản là họ làm những điều đó.
Khi tôi kể cho bác tôi về một cuốn nhật ký nổi tiếng của một người lính trẻ tuổi hai mươi và ngỏ ý muốn mua một cuốn tặng bác. Bác tôi từ chối và nói với tôi rằng: “Con ạ, nếu mỗi người lính khi ra trận, thay vì viết mà chỉ cần bắn bị thương một kẻ thù thôi, thì miền Nam có thể giải phóng rất lâu trước 1975″.
Khi tôi kể cho bác về những chuyện gần đây trên Biển Đông, bác lẩm nhẩm tính rồi nói “Ác liệt như hồi 72 mà người ta mới vét đến cán bộ tuổi 35. Giờ, nếu không phải đánh lớn trên bộ, chắc bọn con (tôi và các anh con bác) không bị động viên đâu!”
Tôi viết những dòng này vì tôi ngán đến tận cổ những người ngồi trong phòng máy lạnh mà mọi thứ họ viết ra chỉ là chỉ trích. Tôi ngán đến tận cổ việc họ tự cho mình là đang nói lên tiếng nói của một người dân để viết về lòng yêu nước.
Họ chỉ trích, họ mách nước cho Nhà nước làm việc A việc B dù họ biết rằng nếu có nổ súng thì họ sẽ không gửi email gọi con họ bỏ học ở nước ngoài để về nhập ngũ.
Nghĩ đi nghĩ lại, tôi tự hỏi và mãi vẫn không tìm được chỗ nào cho thấy họ đang đại diện cho nhân dân (những người nông dân như ông ngoại tôi, những cán bộ về hưu như bác và các dì tôi) để nói những từ đại ngôn đó.
Những người đại ngôn đó đòi minh bạch về thông tin, đòi nhà nước để cho phải báo cáo này nọ nhưng họ quên mất một điều, hồi chiến tranh, có ngày nào mà nhân dân không nghe đài thống kê về số lượng đạn pháo bắn sang lãnh thộ Việt Nam, ngày nào mà Thông Tấn Xã VN không dịch những bản tin đó sang tiếng Anh cho thế giới biết?
Cả thế giới đều biết, nhưng chỉ có những thanh niên Việt Nam 17-18 phải bỏ trường học mà lên đường giữ nước, và cả nước phải đói ăn đến queo quắt để chiến sỹ tiền duyên có đạn mà bắn.
Nhiều chiến sỹ hải quân đã hy sinh vì tổ quốc – tinh thần yêu nước và hy sinh họ có thừa nhưng họ chưa có đủ vũ khí để chống lại những con tàu lớn.
Những người gác biển không cần những người “đứng” sau lưng bằng những bài viết răn dạy về tình yêu nước trên Facebook.
Những người gác biển cần vũ khí, cần máy bay, cần tên lửa, cần tàu chiến, tàu ngầm. Và những thứ đó chỉ có được khi có tiền.
Nếu có viết, hãy kêu gọi nhà nước phát hành công trái mua vũ khí, và nếu có phát hành, thì hãy mua công trái. Đừng để con em nhân dân đổ máu để cho các bạn lên internet hô hào mình là yêu nước.
Những người nào thích những thứ dân chủ và yêu nước lấp lánh phương Tây, xin hãy đọc lại tác phẩm kinh điển “Gone with the wind” (Cuốn theo chiều gió) để học một cách thực tế hơn về lòng dũng cảm, về tinh thần yêu nước”.
[note]Bạn nghĩ sao về góc nhìn này. Bạn đã thể hiện lòng yêu nước của mình như thế nào? Hãy gửi cho BCTT quan điểm của bạn.[/note]
P.V

Thứ Bảy, 8 tháng 12, 2012

LẠC LỐI MÙA ĐÔNG


Anh muốn gửi em một ít nắng vàng
Nhuốm thêm sâu sắc màu mùa hạ đỏ
Nơi ấy bình yên lối về để ngõ
Lá vàng rơi ướt lại dấu chân em.
 
Mùa thu tàn cho mùa hạ đỏ lên
Gửi đến nhau những thầm thì tiếc nuối
Kỉ niệm đi qua giấc mơ bao buổi
Gắn vào nhau những nốt lặng âm thầm.
 
Ta ngóng về nhau qua lặng dư âm
Ta viết về nhau qua dòng thơ bối rối
Gần lắm rồi và vẫn xa bao nỗi
Hai phương trời chia khoảng lặng dịu êm.
 
Một chút thôi gửi về phía bên em
Chút nắng vàng hong khô mi mộng ước
Bồng bềnh mãi mà không sao tới được
Một màu thơ lạc lối thuở vườn xưa.
 
8-12-2012

TUY HÒA CHIỀU


Cơn gió nào đu trên trên tán lá bàng
Mang hơi ấm nắng chiều đông man mác
Con sóng xô xiêu bến bờ đến bạc
Thả hanh se hong gió cát Tuy Hòa.

 

Ngẩn ngơ chiều và anh bỗng nhận ra
Dáng nón quen lang thang bờ cát trắng
Đôi gánh mòn dấu bờ vai sâu lắng
Thuở ngày xưa rơi nắng đến mỏi mòn.

 

Chiều Tuy Hòa gặp em nhưng lạ chưa
Giấc mơ nhặt lại không còn dĩ vãng
Nét lo toan che một thời lãng mạn
Chỉ rì rào rơi theo lá bàng khô.

 

Mùa đông về theo em những nỗi lo
Cuộc sống thường ngày của thời gian khó
Muốn nói nhiều nên phải đành để ngõ
Chuyện ngày nay cất nón lá ngày mai.

 

Nắng loay hoay ôm theo đỉnh Chóp Chài
Gió bâng khuâng leo Tháp Chàm núi Nhạn
Sóng Đà rằng vỗ mãi bờ vẫn vắng
Đợi em về sắc nắng tím chiều rơi.

 

Gọi Tuy Hòa nhiều qua tiếng em ơi!
Dẫu biết đó, đây không còn bóng ấy
Mai anh về, bịn rịn theo đến vậy
Một chiều mơ một nét nhớ Tuy Hòa.


Tuy Hòa 8-12-2012

Thứ Năm, 6 tháng 12, 2012

GIỮA KHOẢNG LẶNG HAI NGƯỜI

Em đi về nơi ấy chẳng mùa đông
Cơn gió lạnh níu hàng me tiễn biệt
Nắng rắc lên ti-gôn hồng da diết
Kinh thành xưa đổ bóng xuống trầm tư.

Em đi về nơi ấy chốn rừng xa
Để khoảng lặng kéo dài thêm đêm vắng
Con dế buồn rung giọt sương sóng sánh
Soi tìm mơ rơi vãi những lối về.

Hoa sữa chùng hương theo những đam mê
Con đường quen dấu những chiều chờ đợi
Tìm nhạc, thơ trên lá vàng, khoảng lặng
Gói dạt dào trong thấp thoáng vô tư.

Em bây giờ giữa mùa gió, mùa mưa?
Có nghe khoảng lặng chứa đầy bão tố?
Vẻ bình yên giấu nồng nàn thác đổ
Giữ được hai người như mãi thuở đầu tiên?

6-12-2012

Thứ Tư, 5 tháng 12, 2012

Điểm danh những "ngộ nhận cố tình” của Giáo dục VN


sưu tầm từ internet

(Dân trí) - Dẫn ý kiến của một nhà chuyên môn Mỹ phân tích thực trạng ngành GDVN hiện nay, bạn đọc Nguyễn Hữu Tâm (Bà Rịa-Vũng Tàu) lý giải sâu hơn về những “ngộ nhận” của nền GDVN trong nỗ lực vẫy vùng để cải cách, nâng cao chất lượng.
 
Tháng 11/2008, trong khuôn khổ chương trình Bồi dưỡng lãnh đạo các trường đại học, cao đẳng Việt Nam, đoàn tham quan và học tập kinh nghiệm các trường đại học, cao đẳng ở Hoa Kỳ do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức đã đến thăm Đại học Harvard. Đoàn được trường tiếp đón và báo cáo một chuyên đề nghiên cứu về hệ thống giáo dục ở Việt Nam.

Người báo cáo là GS Thomas J.Vallely, Giám đốc Chương trình Việt Nam của Đại học Harvard. Ông chỉ ra rằng: sở dĩ nền giáo dục Việt Nam hiện nay còn gắng gượng, chưa sụp đổ (chữ dùng của GS) là do các yếu tố:

 + Một là sự bùng nổ internet ở Việt Nam trong những năm gần đây. Sở dĩ GS có kết luận trên là do nhà trường phỏng vấn thí sinh Việt Nam đăng ký vào Đại học Harvard. Các thí sinh nói đã khai thác được kho tàng internet để tìm kiếm thông tin và học tập tốt. Trong nhóm được phỏng vấn, chỉ có khoảng 1% hạn chế về vấn đề này.

 + Hai là nhờ truyền thống hiếu học. Có thể nói, xã hội Việt Nam là một xã hội hiếu học và đặt giá trị của giáo dục rất thiêng liêng. Các bậc phụ huynh sẵn sàng đầu tư cho việc học tập của con cái mình về cả về vật chất lẫn tinh thần.

+ Ba là kỳ thi tuyển sinh đại học ở Việt Nam được tổ chức khá nghiêm túc. Và do vậy,Việt Nam hầu như tuyển được những người có thực lực.

Tuy nhiên, GS cũng chỉ ra những “ngộ nhận” của nền giáo dục Việt Nam trong nỗ lực vẫy vùng để cải cách, nâng cao chất lượng. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi muốn lý giải sâu hơn về các ngộ nhận do GS chỉ ra.

1. Cứ đạt chuẩn là… có chất lượng:

 Sản phẩm hàng hóa trước khi tung ra thị trường trong và ngoài nước bao giờ cũng qua khâu kiểm định chất lượng một cách rất nghiêm ngặt và chặt chẽ. Các chỉ số về chất lượng của hàng hóa làm nên thương hiệu của sản phẩm. Người kiểm định chất lượng không phải là nhà sản xuất, mà là một cơ quan độc lập. Thế là thuật ngữ “đạt chuẩn” ra đời. Thuật ngữ này dần lấn sân sang lãnh vực khác, đặc biệt là Giáo dục.

Trường đạt chuẩn Quốc gia, chuẩn ISO, chuẩn Quốc tế, rồi chuẩn Hiệu trưởng, chuẩn giáo viên, chuẩn học sinh, chuẩn lên lớp, chuẩn kiến thức kỹ năng…Muôn vàn cái chuẩn đang hàng ngày, hàng giờ sinh sôi, nảy nở trong từng tế bào, thớ thịt của cơ thể Giáo dục. Chúng hành hạ, làm hao tổn sức lực con người, gây lãng phí tiền của Nhà nước.

Mỗi một “chuẩn” được học tập từ nước ngoài về được các chiến lược gia giáo dục nhào nặn lại cho phù hợp với thể trạng con người, phù hợp với vùng miền, phù hợp với tình hình đất nước…nói chung là phù hợp với nền giáo dục truyền thống của dân tộc. Thế là Thông tư này, Chỉ thị kia, Quyết định nọ được thay nhau…Sau đó là một đội ngũ giáo viên khăn gói lên đường tập huấn. Từ nay có chuẩn rồi nhé! Cứ thế mà làm.

Hành trình “đi tìm Chuẩn” trong giáo dục đơn giản chỉ là thế. Sự giản đơn để làm dễ hiểu một vấn đề phức tạp trong học thuật là năng khiếu của sự truyền đạt. Tuy nhiên, đơn giản hóa một cách làm để mong có kết quả tốt đối với vấn đề hệ trọng của đất nước, thì tôi e là thật… lâm nguy. Chuẩn mà giáo dục đang áp dụng tràn lan là một liệu pháp tinh thần, nhằm trấn an dư luận về tình trạng xuống dốc của giáo dục nước nhà mà thôi. Chứ thực tế là nó càng làm cho bức tranh của ngành đã rối lại càng rối.

Thực tế các tiêu chuẩn mà chúng ta học tập được từ nước ngoài là nguồn tư liệu quý giá mang tính định hướng. Ở đất nước bạn, đơn vị đứng ra để đo đạc các tiêu chí đó là cơ quan kiểm định chất lượng độc lập, có uy tín, được xã hội tin tưởng đặt niềm tin. Vì vậy, những kết luận của họ được thừa nhận tuyệt đối. Kết luận của các cơ quan kiểm định khách quan này đối với bất kỳ một cơ sở giáo dục nào, luôn được mọi người quan tâm. Nó có thể là một lời khẳng định thương hiệu, cũng có thể là dự báo cần phải thay đổi, thậm chí người đứng đầu giáo dục phải từ nhiệm.

Còn chúng ta, áp dụng chuẩn hết sức máy móc, đơn điệu, người làm cũng là người kiểm định chất lượng. Chúng ta ngộ nhận tai hại rằng kiểm định chất lượng là liều thuốc có thể chữa bách bệnh mà quên rằng nó chỉ là công cụ, chưa nói công cụ đó phải được giao vào tay ai trong cuộc chiến phân định trắng/đen của chất lượng.

 Kết luận về Chuẩn của một cá nhân hay tập thể trong ngành giáo dục là cực kỳ quan trọng. Trường này đạt chuẩn, trường kia chưa đạt, giáo viên này chuẩn, hiệu trưởng kia chỉ loại trung bình…Các kết luận như vậy mặc nhiên và nhan nhản, không tác động mảy may gì đến đối tượng được kết luận. Vì chúng ta chưa có những chế tài thật sự.

Vậy thì nguồn căn của sự thành bại trong áp dụng chuẩn là tính nội tại bên trong, điều này được ví như “tốt gỗ hơn tốt nước sơn”, như vẻ đẹp lung linh về tâm hồn. Tại sao chúng ta máy móc cứ chạy theo chuẩn, phải đạt chuẩn, trên chuẩn mà chúng ta không quan tâm đến nỗi hổ thẹn, tính tự chịu trách nhiệm của những người quản lý giáo dục?

Nếu các cơ sở giáo dục nhiệt tình, có trách nhiệm, có tâm, suốt cuộc đời gắn bó và cống hiến cho sự nghiệp mình đã chọn, thì tôi nghĩ việc đạt chuẩn và trên chuẩn là rất bình thường. Vì vậy, việc có chế tài sau khi kiểm định cộng với việc tăng cường hơn nữa tính tự chịu trách nhiệm của những người đứng đầu các cơ sở giáo dục, theo tôi nghĩ, là then chốt làm nên chất lượng giáo dục.

Còn hiện nay, giữa các cơ sở giáo dục vẫn còn tình trạng “cá mè một lứa”. Tình trạng này là vấn nạn âm ỉ, vô hình nhưng có tác dụng ghê gớm làm nản lòng những nhà giáo dục chân chính.

2. Đầu tư nguồn lực vật chất để mong thay đổi chất lượng giáo dục

Để cứu một ngân hàng đang trên bờ vực phá sản, những người có trách nhiệm thường dùng giải pháp “bơm” tiền. Để nâng mức sống cho người dân, nhà nước thường đầu tư chung cư, nhà cho người thu nhập thấp, đường sá, bệnh viện, trường học…Nói chung dùng nguồn lực vật chất để làm đòn bẩy mong tạo ra cái mới có chất lượng hơn.

 Đầu tư về vật chất là dễ dàng như cấp nhà cho người nghèo, như hỗ trợ ODA không hoàn lại. Nhưng nếu nghĩ rằng đầu tư cơ sở vật chất cho nhà trường để ngay lập tức chất lượng được nâng lên, theo tôi, là quan điểm quá ngộ nhận của những nhà quản lý của chúng ta hiện nay.

Đã bao giờ chúng ta thử tìm câu trả lời cho những thắc mắc: tại sao những con ngoan trò giỏi, những thủ khoa đại học phần đông là con của người dân lao động, có gia cảnh khó khăn? Cơ sở vật chất của các trường phổ thông ở phía Bắc nhìn chung còn thua xa các trường ở phía Nam, nhưng chất lượng đỗ đại học các trường phía Bắc vẫn hơn hẳn phía Nam? Cả nước có gần cả trăm trường THPT chuyên, được đầu tư cơ sở vật chất rất khang trang và hiện đại…nhưng có tỉnh vẫn thật sự chưa thu hút học sinh vào học, thực tế này nói lên điều gì ?

 Đứng trước ngộ nhận tai hại đó, tại “ Hội thảo khoa học tri thức thủ đô với việc đổi mới căn bản toàn diện giáo dục Việt Nam giai đoạn 2012-2020” được tổ chức ngày 29/9/2012 tại Hà Nội, PGS. TS Khổng Doãn Điền đã chỉ ra: Giáo dục trong những năm chiến tranh với điều kiện rất khó khăn nhưng một thế hệ học trò vẫn trưởng thành và thành đạt : “Hồi đó dù trường không ra trường, lớp không ra lớp nhưng vì thầy ra thầy nên trò ra trò”. Ông Điền còn đề nghị việc đổi mới giáo dục phải nên từ yếu tố con người.

 Đúng vậy, chất lượng giáo dục phải xuất phát từ yếu tố con người. Người thầy là quan trọng nhất. Đầu tư cho nguồn lực vật chất, chương trình, sách giáo khoa cho giáo dục là cần thiết nhưng chưa cấp thiết, là điều kiện cần nhưng chưa đủ, chỉ đủ làm nên hình hài chứ chưa làm nên cốt cách tâm hồn. Ngoài ra, việc ngộ nhận này còn xuất phát từ tâm lý của các cấp lãnh đạo muốn xây dựng trường lớn, trường đạt chuẩn…và điều này càng thôi thúc các nhà quản lý nhà nước hơn, khi mà vấn nạn tham nhũng vẫn chưa được đẩy lùi.

 
3. Muốn có chất lượng phải cải cách từ từ

 Giáo sư Thomas J.Vallely cho rằng việc giáo dục Việt Nam chậm đổi mới có nguyên nhân từ một số vị giới chức cấp cao. Ông dẫn ra dẫn chứng khá mỉa mai: "Mỗi lần tôi gặp một quan chức Việt Nam đề cập đến việc cải cách, thì đều nhận được câu trả lời “sẽ cải cách từ từ”. Và nếu mỗi lần như vậy cho tôi 1 đô la, thì bây giờ tôi đã là người giàu có…"

Việt Nam không thiếu người am hiểu về Giáo dục, có thể khẳng định như vậy. Tuy nhiên, chúng ta thiếu người biết lắng nghe, điều này là một thực tế. Từ đầu năm 2000 đến nay có rất nhiều kiến nghị, góp ý nhằm chấn hưng nền giáo dục nước nhà. Nhiều ý kiến tâm huyết, kết tinh của quá trình nghiên cứu khoa học không mệt mỏi của các trí giả trong và ngoài nước. Các đề án kiến nghị được soạn thảo rất công phu, mang tính khoa học và thực tiễn cao của các học giả nổi tiếng được gửi đến cơ quan Đảng và Nhà nước như:

 + của Giáo sư Hoàng Tụy và các cộng sự: Đề án “Kiến nghị của hội thảo về chấn hưng, cải cách, hiện đại hóa giáo dục”.

 + của trí giả Việt kiều Vũ Quang Việt và cộng sự: Đề án “Sử dụng trí thức Việt kiều để xây dựng giáo dục đại học chất lượng cao tại Việt Nam”.

Và hàng loạt những nhà khoa học khác có am tường về Giáo dục Việt Nam như : Nguyễn Đăng Hưng, Nguyễn Quang A, Nguyên Ngọc, Phan Đình Diệu, Phạm Phụ, Phạm Toàn..v.v. thay nhau đăng đàn, thuyết giáo.


Đổi lại, các nhà lãnh đạo “vẫn bình chân như vại”, “người nói cứ nói và người làm cứ làm”, họa hoằn lắm mới có người nhếnh mép “phải thay đổi từ từ”.

 Và để xoa dịu dư luận về sự xuống cấp của Giáo dục, lâu lâu chúng ta lại “hâm nóng” đề tài này bằng các cuộc hội thảo quy mô, như Hội thảo vừa rồi của trí thức Thủ đô với việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục VN giai đoạn 2012-2020.


Một bức tranh xám màu của giáo dục lại có dịp để vén tấm màn che lên, gây nhức nhói, đau buốt bằng những nhận định của những nhà khoa học hàng đầu trong lĩnh vực giáo dục như:

+ GS Chu Hảo: “ Nền giáo dục của chúng ta hiện nay không phải là lạc hậu (đi đúng hướng nhưng đi chậm) mà là lạc đường”.

 + GS Hoàng Xuân Sính “vẽ” cụ thể một bức tranh trải ra trước mắt: Hệ phổ thông với thầy và trò suốt ngày dạy thêm học thêm. Hệ ĐH với những sinh viên chỉ muốn xả hơi sau 12 năm gò lưng trên bàn học, đến mùa thi thì thì “đi thầy” để có bảng điểm tốt. Và một danh sách dài những gia đình chán ngán giáo dục nước nhà, tìm cách cho con ra nước ngoài học...

 Có thể nói trong 12 năm từ tiểu học đến hết THPT - giáo dục của Việt Nam chỉ làm được việc dạy kiến thức, còn việc dạy người thì chưa làm được gì. GS Hoàng Tụy khẩn thiết: “Sau mấy chục năm giáo dục chìm đắm trong khủng hoảng triền miên bởi các ràng buộc ý thức hệ cứng nhắc, đã đến lúc phải có lựa chọn. Hoặc là tiếp tục con đường cũ, tiếp tục giam hãm đất nước trong nền giáo dục ngày càng tụt hậu so với thế giới. Hoặc là cương quyết thay đổi tư duy - thực hiện bước ngoặt cơ bản, mở đường cho một giai đoạn giáo dục khai phóng phát triển” (trích báo Dân trí, ngày 01/10/2012).

 Nhưng tôi tin chắc rằng, sau hội thảo vấn đề vẫn… trở lại như cũ. Có chăng là một vài động thái nhỏ, mang tính “cải cách từ từ” lại tiếp diễn,đại loại như: đổi mới chương trình sách giáo khoa, rồi thí điểm, phân luồng mạnh mẽ, tăng đầu tư ngân sách…

 4. Cách tuyển chọn và quản lý nhân sự hiện nay

 Nếu con người là nhân tố quyết định mọi sự thành bại thì nền Giáo dục đã xác định đúng trọng tâm. Nhưng cách làm của chúng ta hoàn toàn không thể chấp nhận được. Chẳng hạn, tiêu chuẩn lý lịch gia đình là không thể có chỗ đứng trong khoa học. Hay ông hiệu trưởng mà không có quyền sa thải một cô tạp vụ rót trà thì rất khó nói đến việc nâng cao chất lượng.

Chất lượng chuyên môn là ưu tiên hàng đầu để tuyển chọn con người làm giáo dục, bất kể người đó là người địa phương hay địa phương khác, người đó trong đảng hay ngoài đảng, người đó trong lãnh thổ Việt Nam hay nước ngoài… Miễn cá nhân đó giỏi về chuyên môn, học thuật và am hiểu về tâm sinh lý con người. Khi chúng ta có trong tay những công cụ, “vũ khí” sắc bén nhất, chúng ta mới nghĩ đến mục tiêu chinh phục, nghĩ đến kết quả đạt được, nghĩ đến sản phẩm của ngành giáo dục.

Chúng ta nên nhớ sản phẩm của giáo dục là con người, mà con người trong thời đại hôm nay khác với con người trong quá khứ. Con người - sản phẩm làm ra của bất cứ nền giáo dục nào trên thế giới đều phải là con người toàn cầu (hay “công dân toàn cầu” chữ dùng của ông Lý Quang Diệu).

 Thấm nhuần về việc sử dụng con người, GS Thomas J.Vallely cho rằng; Việt Nam phải đổi mới nhân sự trong giáo dục mới có thể nâng cao chất lượng giáo dục. Nếu không làm điều này, Việt Nam khó có thể đổi mới đạt hiệu quả được. Việt Nam có nhiều nhà khoa học trẻ rất giỏi, họ đã rất thành công trong và ngoài nước. Cần dành chỗ đứng cho nhân sự khoa học. Mặc dù Nhà nước phải đóng vai trò chủ chốt trong giáo dục, nhưng phải đổi mới về vấn đề này.

 Tôi nhớ không nhằm trong Đại hội Đảng gần đây ở Trung Quốc, nước bạn nêu rõ quan điểm về nhân sự ở vị trí Bộ trưởng của các ngành chuyên về công nghệ, về thông tin truyền thông…không nhất thiết là người trong đảng. Một quan điểm rất rõ ràng. Người có trình độ chuyên môn cao cần phải được trọng dụng.

 Việt Nam những năm gần đây cũng có chuyển mình trong việc tuyển chọn nhân sự cho ngành giáo dục, nhưng tư tưởng sính bằng cấp, người địa phương vẫn còn tồn tại. Thực tế đó dẫn đến việc những người lãnh đạo giáo dục không thực tài, thiếu tầm nhìn. Điều này cũng lý giải vì sao nhiều hiến kế cách tân giáo dục vẫn chìm vào quên lãng. Giáo dục xuống dốc có nguyên nhân từ sự khủng hoảng một thời gian dài về nhân sự, về cách dùng người trong giáo dục.

 Nói tóm lại, các ngộ nhận được GS trường Đại học Harvard nêu ra ở trên rất dễ nhận thấy trong nền giáo dục Việt Nam. Tuy nhiên các cơ quan chức năng, những người chịu trách nhiệm vì lý do “tế nhị” nào đó, họ ngụy biện bằng những mỹ từ cố tình che đậy một sự thật…Phải chăng là “lợi ích nhóm” mà Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra? Nếu đúng vậy, thì những ngộ nhận về chất lượng giáo dục Việt Nam mà chúng ta đang dày công vun đắp là những ngộ nhận mang tính “cố tình”?

 

Nguyễn Hữu Tâm tamgvthpt@yahoo.com

Và còn một vấn đề nữa cần bổ sung là

Sự ôm đồm thái quá của tư duy

Việt nam sử dụng khẩu hiệu cải cách giáo dục, cải cách triệt để, phải nâng cao chất lượng giáo dục…Nhưng chất lượng giáo dục là gì, nó gồm những cấu thành nào, mỗi cấu thành cần thực hiện như thế nào thì không ai nói đến hay chịu nói đến. Đó là ảnh hưởng tâm lý của kiểu làm việc theo phong trào, tâm lý hay hệu ứng đám đông đã đi sâu vào tư duy người Việt hiện nay do sự giáo dục phiến diện. Để thực hiện một vấn đề cụ thể thì cần mổ xẻ, quan sát, thu thập thông tin, đánh dấu, đánh giá, phân tích, đưa ra cách thức kiến trúc chi tiết, kiểm tra theo qui trình, tổng hợp kiến thức về vấn đề, phân chia thứ bậc cho người thực hiện… thì người Việt nam lại chọn phương án một người ôm hết, sau đó thuê lại. Từ đó dẫn đến hậu quả làm theo lối ăn xổi ở thì, sai lầm vì "đi tắt đón đầu". Những khẩu hiệu "rút ngắn tiến độ", "thi đua lập thành tích chào mừng…", "đi tắt đón đầu", "vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy"…v.v chính là những nguyên nhân đẩy tư duy chúng ta đến chỗ phá sản toàn bộ.

6-12-2012

Bài 1 -Tài sản mềm của Việt Nam

Bài báo sưu tầm

Khi tôi còn làm cho hãng Eisenberg và Hartcourt vào những năm đầu mở cửa của Trung Quốc (1975-1990), chúng tôi được tiếp đón nồng hậu và được mời đầu tư váo những công ty mà chánh phủ TQ cho là “hòn ngọc”giá trị nhất của họ. Đó là những đại công ty có nhà máy lớn như một sân vận động, hàng chục ngàn nhân công, cơ sở văn phòng bề thế…tọa lạc phần lớn tại các vùng khỉ ho gà gáy (kế hoạch tránh các phi vụ ném bom trong chiến tranh). Những doanh nghiệp nhà nước này mang rất nhiều tính chất xã hội và quản lý theo kiểu “cha chung”…nên thua lỗ thường trực.
Trước 1990, không mấy ai trên thế giới suy nghĩ nhiều về tài sản “mềm”, mà đo lường sự thịnh vượng thành công của 1 công ty hay 1 con người qua các đồ chơi sờ mó được như bất động sản, khoáng sản, thực phẩm, xe cộ, điện máy…

Giá trị của tài sản mềm

Do đó, khi Hartcourt đem tiền đầu tư chuyên vào các công ty IT hay truyền thông, nhiều tư vấn TQ cho chúng tôi ngu, đem tiền đi đổ sông Ngô. Ngay đến hôm nay, phần lớn doanh nhân Việt vẫn không nhận ra giá trị mềm của công ty họ. Khi họ chào bán hay mời mọc, họ vẫn khoe nhiều về nhà máy hoành tráng, bao nhiêu hectares đất bao quanh, văn phòng tráng lệ ngay tại trung tâm thành phố và chiếc xe Rolls Royce họ đang lái…
Tôi có đến thăm tập đoàn Foxconn ờ Shenzen hai năm về trước. Nhà máy hiện đại với hơn 30 ngàn nhân công, hệ thống dây chuyền sản xuất và các phòng “sạch” (clean room) vĩ đại trông rất ấn tượng. Sản phẩm lớn nhất họ gia công là các Iphone, Ipad, Ipod cho Apple. Trong khi Apple làm chủ bản quyền trí tuệ và thương hiệu nên kiếm lời khoảng $140 USD mỗi đơn vị Iphone, lợi nhuận của Foxconn khoảng $7 một chiếc.
Hãng Nike có thương vụ lớn nhất toàn cầu về giầy dép và trang phục thể thao. Họ không sở hữu bất kỳ nhà máy nào trên thế giới. Tài sản quý giá nhất là thương hiệu đã xây dựng suốt 50 năm qua và những trung tâm thiết kế và các phòng thí nghiệm hiện đại nhất về công nghệ và sản phẩm. Những công ty có thị giá cao nhất trên thế giới đều là những công ty mà giá trị mềm vượt trội: Google, Microsoft, Facebook, Pfizer, Oracle, IBM…Không một công ty bất động sản nào nằm trong Top 100 (100 công ty hàng đầu).
Tài sản mềm mang giá trị quan trọng nhất trong lợi thế cạnh tranh của nền kinh tế tương lai.
Nhìn lại Việt nam, liệu chúng ta có thể đánh giá được những tài sản mềm? Vai trò của chúng sẽ ảnh hưởng như thế nào trong chiến lược kinh tế khu vực và toàn cầu? Hãy kiểm điểm.
1. Tài sản con người
Hai yếu tố tạo mũi nhọn cho đội ngũ nhân lực là sáng tạo và năng động. Đây là phạm trù của tuổi trẻ và Việt nam thường hãnh diện với một dân số mà 65% dưới 30 tuổi, trên 50 triệu người. Thêm vào đó, học sinh sinh viên Việt Nam thường tỏa sáng trên các trường trung đại học khắp thế giới. Cộng với giới trẻ trong nước, Việt Nam có 3.8 triệu kiều bào có kinh nghiệm nghề nghiệp cao, 32% tốt nghiệp đại học. Nói chung so với 9 quốc gia còn lại trong khối ASEAN, Việt Nam dẫn đầu về tiềm lực của nhân tài, trên cả Indonesia với gần 250 triệu dân.
Tuy nhiên, sự yếu kém của nền giáo dục lý thuyết từ chương đã làm què quặt tiềm năng này. Công ty Intel đã không tìm ra đủ 180 nhân viên trung cấp cho nhà máy 1 tỷ đô la của họ ở Thủ Đức và phải nhập khẩu một số lớn chuyên viên từ Malaysia và Phi Luật Tân. Các công ty FDI khác tại Việt Nam đều có những than phiền tương tự.
Thêm vào đó, tư duy sao chép nguyên bản các tư tưởng truyền thống, các công thức khoa học lỗi thời và chánh sách dùng người lấy ngoan ngõan làm chỉ tiêu…đã gây thui chột mọi sáng kiến, mọi đổi mới, mọi tiến bộ. Dù có số lượng giáo sư tiến sĩ cao nhất ASEAN (gần 10 ngàn người), Việt Nam chỉ có 5 bằng sáng chế nộp tại Âu Mỹ trong 6 năm qua. Năm 2011, trong khi Singapore với 5 triệu dân đăng ký 648 bằng sáng chế, con số từ Việt Nam là zero cho 90 triệu dân.
2. Thương hiệu quốc gia
Các tên tuổi mà mạng truyền thông Việt không ngừng vinh danh như Vinamilk, Trung Nguyên, Dr. Thanh, Bitis…đều không có một dấu ấn gì trên thương trường quốc tế. Ngay cả Vietnam Airlines đáng lẽ phải là một đầu cầu để phát huy các thương hiệu khác cho Việt Nam trên khắp điểm đến của thế giới đã chưa hoàn thành nhiệm vụ của mình.
Nhờ vai trò lịch sử trong 2 cuộc chiến tranh Pháp-Mỹ, Việt Nam đã có tiềm năng để nổi tiếng và tạo thiện cảm với nhân dân thế giới. Tuy nhiên sau 37 năm từ ngày chấm dứt chiến tranh, hình ảnh Việt Nam đã mờ dần trong trí nhớ của những thế hệ trẻ sau này. Sự thiếu vắng những thành quả ấn tượng trên mọi lãnh vực từ kinh tế đến khoa học, từ nghệ thuật đến thể thao đã bào mòn thương hiệu Việt Nam.
Nhật Bản phải mất gần 40 năm mới tạo dựng cho Made In Japan một thương hiệu đồng nghĩa với chất lượng sản phẩm và sáng tạo. Trung Quốc cố gắng tạo một thương hiệu quốc gia suốt 35 năm qua. Cho đến nay, kết quả ngược lại với mong ước, các thực phẩm, hóa phẩm Made in China bị tẩy chay trên mọi thị trường, ngay cả tại chính quốc gia họ. Các sản phẩm tiêu dùng khác của TQ đồng nghĩa với giá rẻ và biểu hiện của hàng nhái, hàng giả, hàng dởm…
Một may mắn cho Việt Nam là dù nằm cạnh Trung Quốc và mang nhiều tính chất kinh doanh cẩu thả tương tự, sản phẩm Việt Nam vẫn chưa bị bôi đen trên thế giới. Tuy nhiên, nếu tiếp tục copy ông láng giềng về quản lý chất lượng, thương hiệu chúng ta sẽ là một gánh nặng đè trên giá cả, thay vì hưởng một mức giá cao hơn (premium) như Nhật Bản.
3. Vị thế trên thị trường
Mọi nền kinh tế cũng như doanh nghiệp đều có thể tạo cho mình một thế mạnh trong các thị trường ngách, mà không cần đến các yếu tố cạnh tranh trên. Thí dụ, Thụy Sĩ hay Singapore không có một nền tài chánh lớn mạnh như Mỹ, Anh…cũng không có đội ngũ hay công nghệ gì sáng tạo hơn; nhưng họ biết biến quốc gia nhỏ bé của họ thành một trung tâm tài chánh thế giới qua chánh sách mở rộng mà kín đáo, hiệu năng và minh bạch.
Việt Nam có thể tìm một lợi thế cạnh tranh theo phương thức trên. Dù công nghiệp Việt không thể sánh với Trung Quốc trên rất nhiều phương diện, nhưng các nhà sản xuất Hàn , Nhật đã đầu tư nhiều vào Việt Nam để tránh rủi ro khi bỏ tất cả trứng vào cái giỏ Trung Quốc. Về du lịch, dù không thể cạnh tranh với Thái Lan hay ngay cả xứ nhỏ như Singapore và Mã Lai, Việt Nam có thể đào sâu vào một chiến lược đặc trưng như sinh thái hay thám hiểm hay hưu trí để tạo thị trường.
Hai ngành nghề tôi tin là Việt Nam có thể dẫn đầu tại ASEAN nếu biết phát triển đồng bộ và sáng tạo. Thứ nhất là nông nghiệp công nghệ cao. Tạo ra những sản phẩm xanh, sạch, an toàn được đảm bảo bởi những cơ quan kiểm phẩm nổi danh thế giới là bước đầu. Việc giáo dục huấn luyện cho các nông dân những công nghệ mới, những quy trình dùng IT để điều hòa và tiếp liệu, sử dụng đội ngũ tiếp thị trẻ và bén nhậy từ thành phố có thể tạo nên một làn sóng thay đổi bộ mặt của nông thủy sản Việt Nam. Người tiêu dùng tại các nước Á Châu, nhất là tại các nơi có thu nhập cao như Hồng Kông, Nhật, Singapore…đang có nhu cầu rất lớn về an toàn thực phẩm.
Thứ hai là ngành IT (công nghệ thông tin) tại các thành phố lớn bao quanh bởi các đại học tiến bộ và hiện đại. Giáo trình học phải thay đổi và các trung tâm IT phải có những cơ sở hạ tầng tối tân nhất để giúp tính sáng tạo của đội ngũ phát huy đúng mức. Trên hết, luật về bản quyền trí tuệ phải được thắt chặt và nghiêm túc thực thi trên mọi cấp bực của thị trường.
4. Văn hóa gia đình và xã hội
Người Việt Nam có một gắn bó thân tình chặt chẽ với gia đình, làng xóm và đất nước, nên sự đùm bọc và tiếp sức tạo một thế đoàn kết mạnh hơn chủ nghĩa cá nhân của Âu Mỹ. Nhưng đây cũng có thể là một bất lợi vì tầm nhìn bị giới hạn, tâm lý bầy đàn rất cao và quá gần nhau thì cũng dễ gây ra xích mích mâu thuẫn. Một mặt khác, liên hệ với tha nhân ngoài xã hội lớn đang bị tha hóa và xuống cấp trầm trọng, tinh thần công dân trở nên tệ hại với những vấn nạn về tham lam, vô cảm, thói gây ô nhiễm và tư duy ích kỷ.
Nói tóm lại, cơ hội để tạo dựng những tài sản mềm cho Việt Nam hiện diện trên nhiều lãnh vực và tiềm năng của các tài sản này có thể là cú hích đưa kinh tế Việt bắt kịp các láng giềng giầu ở ASEAN trong 1 hay 2 thập kỷ sắp đến. Ba đòi hỏi quan trọng nhất trong quy trình đột phá này:
1. Tư duy của đại đa số người dân phải thay đổi để hiểu rằng cái giá phải trả cho sự thịnh vương tương lai là can đảm vất bỏ ngay lập tức những thói quen tai hại, những tư tưởng
lỗi thời và những định kiến sai lầm về kinh tế, xã hội và văn hóa. Một cuộc đổi mới toàn diện từ trí tuệ của trí thức, nông nhân công, trẻ già, giàu nghèo là ưu tiên số một.
2. Thành phần ưu tú và đang được hưởng thụ những thành quả từ sự thay đổi cơ chế phải nắm lấy cơ hội để tạo cho doanh nghiệp mình đang làm chủ hay làm công lĩnh hội được những kiến thức, công nghệ hiện đại, những kỹ cương đạo đức dài hạn, những sáng tạo đột phá trên thị trường và phải bắt đầu xây dựng thương hiệu bền vững.
3. Chánh phủ nên tránh mọi can thiệp vào vận hành kinh tế của tư nhân, hãy tin vào khả năng kinh doanh của người dân, Họ dư sức đưa nền kinh tế này vào quỹ đạo của các nước tiến bộ và qua mặt những đối thủ cạnh tranh tại ASEAN cũng như toàn cầu. Hãy cởi trói cho họ để họ tự lực cánh sinh và đừng áp đặt thêm những gánh nặng không cần thiết qua chánh sách thuế khóa công bằng và thủ tục hành chánh đơn giản minh bạch.
Như Milon Friedman đã nhận xét,” qua bao nhiêu thời đại với nhiều thể chế kinh tế, không có một hệ thống xã hội nào có thể cải thiện mức sống của người dân nhanh chóng bằng hệ thống tự do để mặc cho người dân tự tỏa sáng sự sáng tạo và lao động của họ “
T/S Alan Phan, Chủ Tịch Quỹ Đầu Tư Viasa

BỐN BÀ VỢ - Truyện ngắn sưu tầm

Một thương nhân giàu có có 4 bà vợ. Ông yêu người vợ thứ tư nhất, ông tự hào về người vợ thứ ba, ông tìm đến người vợ thứ hai như một người bạn tâm tình nhưng hầu như chẳng bao giờ chú ý đến người vợ thứ nhất…
Ông nâng niu chiều chuộng, coi người vợ thứ tư như một món đồ trang sức quý, luôn mua sắm cho bà ta những bộ đồ sang trọng đắt tiền.
Ông cũng rất yêu người vợ thứ ba. Ông tự hào về người vợ này và luôn muốn “khoe” vợ với bạn bè. Tuy nhiên, trong ông luôn thường trực nỗi lo sợ bà bỏ đi với người đàn ông khác.
Ông cũng yêu người vợ thứ hai. Ông coi bà như người bạn tâm tình, người giúp ông vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Bất cứ khi nào gặp khúc mắc, ông đều tìm đến bà.
Người vợ thứ nhất lại là người rất chân thành, chung thuỷ, luôn kề vai sát cánh bên ông lo toan chu đáo chuyện gia đình. Tuy nhiên, ông lại không yêu bà vợ thứ nhất. Mặc dù bà rất yêu ông, ông hầu như chẳng bao giờ chú ý đến bà.
Một ngày, ông ngã bệnh. Ông tự biết rằng mình sắp từ giã cõi trần. Ông nghĩ về cuộc sống giàu sang xa hoa và tự nhủ: “Hiện mình có 4 bà vợ. Nhưng khi mình chết, lại chỉ có một mình. Thật cô đơn làm sao!”.
Ông ta hỏi bà vợ thứ tư: “Tôi yêu mình nhất, luôn dành cho mình sự quan tâm đặc biệt và những điều tốt đẹp nhất. Tôi chẳng còn sống được bao lâu nữa, liệu khi tôi chết, mình có nguyện đi theo tôi không?”.
“Không đâu” – Bà vợ thứ tư đáp lại và bước đi.
Người vợ thứ ba vốn là niềm tự hào của ta, rồi cũng sẽ bước đi theo người khác, bỏ mặc ta mà thôi
Câu trả lời như một nhát dao cứa vào. Ông hỏi người vợ thứ ba: “Tôi yêu bà nhiều lắm, tôi sắp chết rồi, bà có nguyện theo tôi không?”.
“Không, cuộc sống vẫn đang đẹp mà. Sau khi ông chết, tôi sẽ tái hôn”. Trái tim ông run lên đau đớn.
Sau đó, ông hỏi người vợ thứ hai: “Bất cứ khi nào gặp vấn đề khó khăn rắc rối gì tôi cũng đều tìm đến bà. Bây giờ tôi xin bà hãy kề vai sát cánh cùng tôi lần cuối cùng. Khi tôi chết, bà có nguyện đi theo tôi không?”.
Bà vợ thứ hai trả lời: “Xin lỗi, lúc này tôi không thể giúp ông được. Nếu có, tôi chỉ đưa linh cữu ông ra mộ thôi”.
Người vợ thứ hai – người bạn tâm tình thân thiết thủy chung của ta cũng chỉ khóc khi ta chết, đưa ta ra đến mộ rồi quay đầu
Ông nghe câu trả lời mà như sét đánh ngang tai. Ông thực sự quá đau đớn vì người mà ông nghĩ có thể tin tưởng nhất cũng bỏ rơi ông. Bỗng có một giọng nói cất lên: “Tôi sẽ đi cùng ông, đi đến bất cứ nơi nào ông tới”. Ông dáo dác tìm kiếm chủ nhân của giọng nói và nhận ra đó chính là người vợ thứ nhất, người mà chẳng mấy khi ông để ý tới.
Trông bà gầy và xanh xao quá. Rưng rưng xúc động, ông nói: “Đáng lẽ ra trước đây tôi phải chăm sóc bà nhiều hơn nữa”. Chỉ có duy nhất người vợ cả, người thường bị ta bỏ mặc, lãng quên khi sống… là kiên quyết đi theo, yêu thương ta cả cuộc đời
Mỗi chúng ta ai cũng có 4 bà vợ.

Bà vợ thứ tư chính là thân thể của chúng ta. Cho dù ta có chăm chút, trau chuốt đến mấy, rồi nó cũng rời bỏ ta khi ta chết.

Còn bà vợ thứ ba? Đó chính là của cải, địa vị. Khi chúng ta chết, chúng sẵn sàng đi theo người khác.
  



Bà vợ thứ hai chính là gia đình và bạn bè. Cho dù có thân thiết đến mức độ nào, khi ta chết, họ cũng chỉ khóc đưa ta ra mộ mà thôi.

Bà vợ thứ nhất chính là tâm hồn ta, thường bị lãng quên khi ta chạy theo tiền tài, địa vị, danh vọng, của cải, nhưng nó sẽ theo ta suốt cuộc đời.

Tốt hơn hết là nuôi dưỡng tâm hồn ngay từ bây giờ, vì đó là “người” thân tín nhất bên ta. Đừng để phải hối hận vì đã lãng quên nó.

St từ internet 6-12-2012

EM VỀ, ANH ĐI


Em về sóng sánh chiều dâng nắng
Lên má, lên vai trĩu với đời
Câu ví ngày xưa rơi lạc lối
Mòn mỏi hai người, chẳng thảnh thơi.

 
Còn đâu mà em giận rồi thương
Cải đã lên ngồng, gió vãng hương
Sông khô cát lặng, ngày tuôn chảy
Ẩn thẳm mắt em dấu đời thường.
 
Nơi ấy em về, anh lại đi
Gặp gỡ chỉ còn trong giấc mơ
Hẹn mùa lãng đãng men lối cũ
Có tìm chung được nét ngày thơ.

 

5-12-2012

ĐÔI GÁNH MẸ NGÀY XƯA


Có những nhọc nhằn mẹ gánh trên vai
Có những hạnh phúc mẹ khoác trên vai
Suốt một đời mẹ gánh
Thời gian nào phôi phai.
 
Mẹ gánh con thời chiến tranh sơ tán
Hòa bình về mẹ gánh mưa chống hạn
Đôi gióng mòn, vai mẹ cứ chai thêm.
Đòn gánh cong theo nắng xuống, chiều lên
Quanh gánh trĩu mồ hôi
Mẹ gánh hai đầu đất nước.
Chúng con lớn lên, bốn phương xuôi ngược
Chỉ mong trở về lại gánh ngày xưa.
 
Trong gánh mẹ có lời ru đu đưa
Có câu hát mòn tay bồng, tay bế
Cũng có lằn roi con ham chơi về trễ
Giọt nước mắt sau vạt áo mồ hôi.
 
Quang gánh già rồi, mẹ chẳng nghỉ ngơi
Ngày kẽo kẹt, chân bước cao, bước thấp
Chúng con cưỡi xe, phố phường dạo khắp
Vai lạ lùng đôi gióng gánh ngày xưa.
 
Mẹ vẫn tảo tần dẫm nắng, đội mưa
Vẫn đôi gióng, gánh trổ đòng hạt lúa
Gánh mùa đông rét căm, hạ nồng bỏng lửa
Gửi vào con tuổi mẹ lớn cùng con.
 
5-12-2012

Thứ Ba, 4 tháng 12, 2012

MÙA HOA PƠ LANG NỞ


Em gọi hoa Pơ lang
Anh đang mùa gạo đỏ
Hai nơi cùng nhóm lửa
Cháy rực lối đi về.

 

Em hát và anh nghe
Chuyện hoa rừng, hoa suối
Về nỗi chờ, nỗi đợi
Mòn núi đồi xa xôi.

 

Dẫu hai người hai nơi
Đêm hơi chùng chưa vén
Anh gom hoa lửa rơi
Gửi về em sưới ấm.

 

Hoa đầu mùa ngượng lắm
Cánh úp, mở thầm thì
Chỉ một màu đỏ thắm
Đốt trái tim người đi.
 

4-12-2012

HOA GẠO ĐỎ

Em như chùm hoa Pơ lang
Đẹp ngất rừng Tây Nguyên vắng
Anh gọi chùm hoa đỏ lắng
Nở xòe thắm cuối mùa thu.
 
Hoa em, hoa anh dường như
Gọi nhau về cùng thắp lửa
Hoa gạo đầu mùa thắm nở
Đốt dần hơi ấm hai nơi.
 
Cũng một cành hoa em ơi!
Em-Pơ lang, anh-gạo đỏ
Sợ em lạnh cùng nắng gió
Anh về đốt cháy thời gian.
 

4-12-2012

Thứ Bảy, 1 tháng 12, 2012

LỜI EM GỌI NẮNG

Em gọi nắng hay lòng em rực nắng
Mắt em xanh thăm thẳm lối đi về
Em vuốt nhẹ lưng gió luồn khe nhỏ
Len vào chăn, vào gối lẫn đam mê.
Nắng của em không vàng lên bậu cửa
Không tràn lên hoa cỏ ven đường
Không khô dạt giọt đêm khóc nhỏ lệ
Nỗi nhớ về quê thổn thức tha hương.
 
Cho anh gửi nắng vào mắt em nhé
Thêm hồn quê xa ngái lắm dịu dàng
Thêm hơi ấm vào bước chân phiêu dạt
Cháy vào tim lời gọi nắng miên man.
 

2-12-2012