Thứ Tư, 19 tháng 12, 2012

Tướng Lưu Á Châu bàn về văn hoá Trung Quốc

Tác giả: Lưu Á Châu (Liu Ya-zhou, Trung Quốc)

Bài đã được xuất bản.: 31/08/2010 06:00 GMT+7

Tinh thần là cái gốc lập mệnh của mỗi con người, là cái gốc lớn mạnh của một dân tộc, cái gốc sinh tồn của một quốc gia. Cái gì cũng có thể không có nhưng tinh thần thì không thể không có.

LTS: Tiếp theo bài Tướng Trung Quốc bàn về niềm tin và đạo đức, (TVN, ngày 15/8/2010), cộng tác viên Nguyễn Hải Hoành lại vừa gửi Tuần Việt Nam chúng tôi bản dịch tiếp theo bài của Lưu Á Châu bàn về văn hóa Trung Quốc. Nhận thấy đây là chủ đề thú vị về văn hóa một dân tộc, tôn trọng tính thông tin đa chiều, Tuần Việt Nam xin trân trọng đăng tải.

Ngày nay Trung Quốc đang tiến những bước dài, đồng thời cũng để lộ ra không ít vấn đề. Tất cả mọi vấn đề đều hướng về văn hoá, song tất cả mọi vấn đề về văn hoá đều hướng vào tôn giáo.

Tôn giáo quyết định văn hoá mà văn hoá thì quyết định tính cách dân tộc; tính cách dân tộc lại quyết định số phận dân tộc.

Xin nêu thí dụ chống tham nhũng. Trừng trị tham nhũng không thể diệt được tận gốc nạn tham nhũng. Có một biện pháp là hoàn thiện chế độ xã hội, mà phương pháp căn bản là bắt tay từ văn hoá.

Thí dụ biện pháp "lương cao nuôi dưỡng sự liêm khiết". Tại Trung Quốc, lương cao chưa chắc đã có thể nuôi dưỡng được sự liêm khiết. Tại sao thế?

Văn hoá Trung Quốc có màu sắc "văn hoá gia đình" rất nặng. Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại (Trong 3 điều bất hiếu, điều lớn nhất là không có con nối dõi - ND). Càng nhiều con cháu càng lắm phúc. Đời cha nhất định phải để dành tiền của cho con cháu. Điều này khác hẳn văn hoá phương Tây. Những kẻ làm cha như chúng ta, lương bổng bản thân có cao đến đâu cũng vẫn muốn để dành cho con, bởi thế người ta vẫn cứ tham. Đây cũng là một nguyên nhân hình thành "văn hoá hối lộ" trong quan trường Trung Quốc.

Sự hình thành văn hoá Trung Quốc có 3 nhân tố chủ yếu: Thứ nhất là hoàn cảnh sinh tồn; thứ hai là tôn giáo; thứ ba là chính sách ngu dân.

Hoàn cảnh sinh tồn

Từ xưa tới nay, số dân trên mảnh đất Trung Quốc này đều nhiều hơn châu Âu. Đàn bà Trung Quốc bị "văn hoá gia đình" biến thành máy đẻ.

Châu Âu có diện tích bình quân đất đai trên đầu người cao hơn Trung Quốc rất nhiều thế mà họ vẫn cảm thấy chật hẹp, không thở hít được nữa, phải khai thác vùng đất mới, bởi thế mà có việc khám phá các đại lục mới.

Người Trung Quốc thì tranh đấu trong hoàn cảnh ác liệt này. Phép sinh tồn rất khắc nghiệt.

Nhưng khi nói về hình thành văn hoá mà chỉ nhấn mạnh hoàn cảnh là chưa đủ. Hoàn cảnh xấu tạo nên một loại văn hoá không thành công. Hoàn cảnh tốt cũng vẫn có thể tạo dựng nên một loại văn hoá không thành công.


Tôn giáo

Trung Quốc có ba tôn giáo chính là Phật Giáo, Đạo Giáo và Nho Giáo (tôi gọi Nho Học là một loại tôn giáo). Ba tôn giáo này có trách nhiệm không thể thoái thác đối với với sự hình thành trạng thái tâm lý và đạo đức ngày nay của người Trung Quốc. Lịch sử cho thấy ba tôn giáo trên căn bản không thể chấn hưng được dân tộc Trung Hoa.

Xin để tôi so sánh đối chiếu Ki Tô Giáo với tôn giáo của Trung Quốc.

Văn hoá Trung Quốc dạy chúng ta "Nhân chi sơ, tính bản thiện" (con người lúc mới ra đời có bản tính lương thiện - ND). Tôn giáo của phương Tây thì ngược lại, cho rằng con người sinh ra đã là xấu (nguyên văn chữ Hán: ác - ND), bản tính con người cũng xấu. Bởi vậy, tôn giáo phải hạn chế anh, bắt anh suy ngẫm về chính mình. Văn hoá phương Tây cho rằng loài người có tội tổ tông. Lòng người đen tối.

Trong số các đồng chí có người đã trải qua "Cách mạng Văn hoá", xin hỏi cái đen tối nhất ở đâu? Cái đen tối nhất thì ở trong lòng người. Tâm hồn mỗi người đều có mặt vô cùng bẩn thỉu. Văn hoá phương Tây mổ xẻ, hé lộ nó ra, trưng nó ra. Phê phán nó, kiềm chế nó. Văn hoá phương Đông thì ôm ấp nó, nuôi dưỡng nó. Nhà thờ ở phương Tây có phòng xưng tội (nguyên văn: sám hối - ND). Người ta vào nhà thờ trình bày với thánh thần các thứ trong tâm hồn mình.

Nói cho thần thánh nghe mọi cái xấu xa bẩn thỉu của mình thì người ta thấy nhẹ nhõm. Tâm hồn người ta được rửa sạch. Hồi sang Mỹ tôi có vào nhà thờ ngồi hẳn một ngày trời. Tôi phát hiện thấy một cảnh rất thú vị: Mọi người ai nấy khi vào nhà thờ thì mặt mày ủ ê, khi đi ra thì sắc mặt thư thái nhẹ nhõm. Về sau tôi mới dần dà hiểu được bí quyết của chuyện ấy. Lâu ngày, người ta trở thành thành con người lành mạnh, con người có tâm trạng và tâm hồn đặc biệt kiện toàn. Con người ai cũng có ham muốn. Nhưng người ta phải kiềm chế ham muốn của mình, ai nấy ắt phải tự mình (chứ không phải người khác) kiềm chế bản thân.

Người Trung Quốc không biết kiềm chế mình, không biết tra khảo bản thân, thế là người ta đi kiềm chế kẻ khác, tra khảo kẻ khác. Quất roi và tra khảo bản thân là chuyện đau khổ. Chỉ khi nào trong lòng mình mãi mãi có tín ngưỡng, có tín ngưỡng vĩnh hằng với thần thánh, thì mới có thể làm được như thế.

Rất nhiều đồng chí đã đi thăm nhà thờ ở phương Tây. Ở đấy thánh thần xuất hiện với hình ảnh đầm đìa máu, chịu khổ chịu nạn. Jesus bị đóng đinh trên giá chữ thập. Đức Mẹ không đổ máu nhưng rơi lệ. Đấy thực sự là hoá thân của con người, là hoá thân của sự khổ nạn và tư tưởng của con người. Thần thánh trong tôn giáo phương Tây nhìn vào tựa như thần thánh, thực ra là con người. Cái chết của Jesus đã hoàn tất việc ngài lột xác (nguyên văn: thoát biến - ND) từ thánh thần thành con người. Chỉ con người mới chết.

Nhưng thánh thần trong các đền miếu của Trung Quốc thì mới là thánh thần. Bạn hãy xem hình ảnh các vị thần thánh ấy: Bụng chảy xệ, nét mặt chẳng lo nghĩ gì sất, nhăn nhở cười cợt, thụ hưởng của thờ cúng. Vị nào vị ấy ăn đến béo rụt đầu rụt cổ.

Người phương Tây đến nhà thờ là để sám hối. Chúng ta lên đền lên chùa là để hối lộ. Chẳng phải thế hay sao? Vì muốn làm được một chuyện gì đây, chúng ta khấn vái thần thánh, bỏ tiền mua mấy nén hương thắp lên hoặc bầy lên mâm những thứ dân gian thường ăn như trái cây gì gì đó, rồi im lặng cầu nguyện. Như thế chẳng phải hối lộ thì là gì?

Người phương Tây đến nhà thờ để giải thoát nỗi khổ về tinh thần. Chúng ta lên đền chùa để giải quyết nỗi khổ trong đời sống thực tế. Thần thánh trong tôn giáo phương Tây luôn luôn chịu khổ còn nhân dân thì không chịu khổ. Thần thánh trong tôn giáo phương Đông thì hưởng thụ, còn dân chúng thì chịu khổ. Đây là khác biệt lớn nhất giữa tôn giáo phương Đông với phương Tây.

Ở nước ngoài, nhà thờ bao giờ cũng xây dựng tại trung tâm đô thị, gần gũi với dân. Đền chùa Trung Quốc thì bao giờ cũng xây dựng trong rừng sâu núi cao, xa rời dân. Tôi từng nói người Trung Quốc về cơ bản là một dân tộc không có tín ngưỡng. Nói không có tín ngưỡng không phải là không có hình thức tín ngưỡng. Ngược lại, những thứ người Trung Quốc tín ngưỡng thì phức tạp nhất, người ta tin cả các đại sư khí công. Cái gì cũng tin lại chính là chẳng tin cái gì hết.


Trong lòng người Trung Quốc không có vị trí của một vị thần thánh vĩnh hằng. Nói sâu một chút, tức là chẳng có sự mưu cầu theo đuổi tinh thần văn hoá có tính tận cùng! Loại người đó không mở rộng phạm vi quan tâm của mình ra tới bên ngoài gia đình, thậm chí cá nhân. Nếu mở rộng sự quan tâm ấy ra thì nhất định sẽ là làm hại kẻ khác. Một dân tộc như vậy sao lại không "năm bè bảy mảng" kia chứ?

Tại phương Tây, khi trên đường có một chiếc xe hỏng thì hầu như tất cả các xe khác đều dừng lại, người ta đến hỏi anh có cần giúp đỡ gì không. Tại Trung Quốc thì hầu hết xe đều bỏ đi, khó khăn lắm mới có người dừng xe hỏi anh, có lẽ tôi còn ngờ vực, anh làm gì thế? Anh có mục đích gì.

Phương Tây đã thắng trong cuộc cạnh tranh với phương Đông cả nghìn năm nay. Tôn giáo phương Tây đã thắng trong cuộc cạnh tranh với tôn giáo phương Đông.

Thắng lợi của tôn giáo là thắng lợi thế nào? Tôi cho rằng đó là một loại thắng lợi về tinh thần. Không có tín ngưỡng thì không có sức mạnh tinh thần. Cái chúng ta thiếu lại chính là cái người ta có.

Hãy nói về chuyện xây đền chùa. Phương Tây khi xây đền chùa thường là bạt hẳn một quả đồi. Đó là một kiểu khí thế, một kiểu dũng khí đấu tranh với thiên nhiên. Người Trung Quốc xây đền chùa thường hay xây trong núi sâu. Xem ra là hoà nhập cùng núi rừng thành một khối, trên thực tế là một kiểu đầu cơ.

Có một bức tranh cổ tên là Ngôi chùa cổ trong núi sâu, rất nổi tiếng, nhưng nhìn vào tranh chẳng thấy một bức tường hay một viên ngói nào cả. Bức tranh vẽ gì vậy? Một lối mòn chạy giữa hai quả núi, một nhà sư quẩy đôi thùng đi gánh nước. Rốt cuộc bức hoạ có ý gì? Là nói ngôi chùa cổ trong núi sâu, chùa và núi hoà làm một với nhau. Chúng ta khẳng định rằng ý của bức hoạ rất khôn khéo.

Người Trung Quốc có tâm lý đầu cơ rất nặng, ai cũng chỉ muốn không làm mà hưởng. Ngày nay, trong thời đại cải cách mở cửa, có biết bao nhiêu người lao vào biển thương mại, ai nấy đều nghĩ "Ngày mai đến lượt mình [làm giàu] rồi". Họ muốn làm cái bộ phận "ddể một số người giàu lên trước" ấy. Sau nhiều năm được giáo dục "Vì nhân dân phục vụ" mà họ lại đều muốn trở thành đối tượng được phục vụ.

Người Trung Quốc trước đời Tần thì không như thế. Sau đời Hán, đặc biệt sau khi Lưu Triệt [1] độc tôn Nho thuật (tức Nho học, Nho giáo - ND) thì người Trung Quốc đã thay đổi.

Tôi rất thích đọc bộ Sử Ký. Đọc hết sách này mà chẳng thấy có đoạn nào viết về những kẻ phản bội. Ngày nay chúng ta có biết bao nhiêu kẻ phản bội! Thời xưa có rất ít kẻ cáo giác. Thời nay thì khắp nơi đều có!

Năm 1986 tôi sang Mỹ. Đêm khuya ra đường, đèn tín hiệu giao thông bật đỏ, chẳng thấy chiếc xe nào chạy cả, tất cả xe đều tự động dừng lại ở ngã tư. Tôi không hiểu, bảo người Mỹ sao mà ngốc thế nhỉ. Về sau tôi mới biết đấy là sự tự kiềm chế của họ. Kiềm chế bản thân là cứu vớt tâm hồn. Việc nhỏ đã thế, việc lớn lại càng thế.

Người Nhật nói, trận địa Trung Quốc rất dễ bị chọc thủng. Lê Minh [4] nói rất hay: "Tôn giáo Trung Quốc biến dân chúng thành bầy cừu."

Đều là cố thủ trận địa, người phương Tây tuy cũng sợ nhưng họ có thể kiềm chế bản thân. Chúng ta thì sao? Trước hết là mong người khác làm bia đỡ đạn. Thấy người khác bỏ chạy thì nghĩ, vì sao mày chuồn? Tao cũng chuồn. Mày đi lính ngụy no nê cơm rượu, tao cũng đi. Mày tham ô, tao cũng tham ô. Tao không chịu kém mày. Tại các nước phương Tây không phải không có chuyện ăn hối lộ nhưng nhìn chung ít hơn chúng ta. Khi nhận hối lộ, lương tâm và tinh thần người ta sẽ ràng buộc họ.

Phó Chủ tịch Trì Hạo Điền [5] có kể một chuyện để lại ấn tượng rất sâu sắc đối với tôi. Ông kể, trong thời kỳ chống Nhật vùng căn cứ địa Giao Đông có bảy tám tên lính Nhật vác cờ mặt trời (tức quốc kỳ Nhật - ND) đi càn, ba bốn chục nghìn quân dân căn cứ địa bỏ chạy hết. Sói đuổi cừu mà.

Trên xe buýt một cô gái bị cướp, xe đầy ắp người mà chẳng ai ho he. Cô gái xúc động thốt lên: "Cha tôi kể năm xưa một tên giặc Nhật cai quản cả một huyện của chúng ta. Ngày ấy tôi không tin, bây giờ thì tin rồi."

Hồi "Cách mạng Văn hoá", ga xe lửa lúc nào cũng đông nghịt. Khi tàu đến, người ta chen nhau ùa vào ga lên tàu. Một cô nhân viên soát vé nói: Các ông bà đông thế này, một đứa con gái như tôi không thể nào giữ được ai, mà tôi cũng chẳng muốn làm thế. Bắt giữ ai nào? Giữ người đầu tiên chen vào. Thế là ai nấy ngoan ngoãn xếp hàng.

Chính sách ngu dân

Tôn giáo Trung Quốc có mấy loại, tuy khác nhau về tư tưởng nhưng trên mặt chủ nghĩa chống hiểu biết hoặc chủ trương ngu dân thì đều như nhau. Chính vì thế mà tôn giáo mới được tầng lớp thống trị coi trọng. Dưới sự giáp công của văn hoá tôn giáo và chính sách ngu dân của lực lượng hống trị, người Trung Quốc hình thành quần thể như ngày nay. Người Trung Quốc giỏi nhất về chuyện ca tụng công đức, thứ nhì là tố giác, thứ ba là giở thủ đoạn, cuối cùng là khôn ngoan bo bo giữ mình (nguyên văn: minh triết bảo thân - ND).

Người Mãn Thanh thống trị Trung Quốc thành công nhất. Họ hiểu rõ đặc tính quan trường của người Trung Quốc: Dốc lòng trung thành với cá nhân, không trung thành với nhà nước.

Trong việc thống trị ba dân tộc Hán, Mông, Tạng ở Trung Quốc, người Mãn Châu nhằm vào các đặc điểm khác nhau của ba dân tộc này để sử dụng những mánh khoé khác nhau. Người Tây Tạng tin Phật Giáo, triều đình nhà Thanh cho dựng ngay tại Thừa Đức [6] một ngôi chùa phỏng theo kiểu chùa Tây Tạng, đón Lạt Ma về kinh đô làm ông lớn. Người Mông Cổ nhanh nhẹn dũng mãnh thì dùng thủ đoạn hôn nhân, gả con gái hoàng tộc cho vương công Mông Cổ, đẻ ra con trai thì nó là cháu ngoại. Đối với người Hán thì dùng khoa cử. Người Hán có tật thích làm quan. Chỉ cần cho làm quan, tựa như quẳng khúc xương cho con chó, là cúi đầu cụp tai ngoan ngoãn nghe theo.

Hồi tôi sang Mỹ, thày hướng dẫn tôi là người chuyên nghiên cứu về Mao Trạch Đông. Ông ấy cho rằng trong đời mình, Mao Trạch Đông tổng cộng làm được 31 việc. Nghiên cứu kỹ 31 sự việc này, tôi phát hiện thấy trong đó có 20 sự việc liên quan tới huỷ hoại tinh thần và đạo đức con người.

Đến năm 1966, cuối cùng Mao Trạch Đông phát động cuộc Cách mạng Văn hoá chưa từng có trong lịch sử, làm cho kinh tế Trung Quốc đi tới bờ vực sụp đổ, càng làm cho phẩm chất đạo đức của nhân dân toàn quốc hạ thấp xuống tới mức đáng sợ, nhà nước mấy lần sa vào tình cảnh muôn đời không phục hồi được.


Tinh thần là cái gốc lập mệnh của mỗi con người, là cái gốc lớn mạnh của một dân tộc, cái gốc sinh tồn của một quốc gia. Cái gì cũng có thể không có nhưng tinh thần thì không thể không có.

Cách đây ít lâu khi xuống sư đoàn 33 Không quân, tôi có đến thăm trại tập trung Tra Tử Động. Nhiều liệt sĩ như Chị Giang [12] đã hy sinh tại đây. Hồi ấy nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đã thành lập. Chị Giang đang ở trong tù mà vẫn thêu một lá cờ đỏ năm sao. Chị chưa biết mẫu của cờ đỏ năm sao như thế nào, cho nên đã thêu ngôi sao lớn nhất vào chính giữa lá cờ, 4 ngôi sao nhỏ ở 4 góc.

Khi bọn Quốc Dân Đảng chuẩn bị làm cuộc đại tàn sát tù nhân thì Quân Giải phóng đã tiến tới gần Bạch Thị Dịch. Đội du kích Hoa Doanh Sơn bắt được liên lạc với Quân đoàn 47. Đội du kích nói: Các đồng chí mau tiến quân đi, trại tập trung Tra Tử Động sắp hành quyết các chính trị phạm. Nhưng Quân Giải phóng cho rằng đội viên du kích Hoa Doanh Sơn là tên lừa đảo, có thể là bẫy kẻ địch cài, cho nên họ không hành động. Kết quả là cuộc tàn sát bắt đầu. Các liệt sĩ hiên ngang đi tới chỗ chết.

Có người nói, thật đáng tiếc, các liệt sĩ ấy đã không nhìn thấy nước Trung Quốc mới. Mục tiêu phấn đấu mà họ theo đuổi sắp được thực hiện thế mà họ lại không được nhìn thấy. Tôi bảo anh nhầm rồi. Nói thực lòng, họ vô cùng hạnh phúc. Tín ngưỡng trong lòng họ sắp được thực hiện, chết vào lúc đó không phải là nỗi đau mà là một niềm hạnh phúc.

Những người còn sống sót mới thực sự đau khổ. Họ nhìn thấy nước cộng hoà nhân dân được thành lập, sau đó là các phong trào chống phái hữu, tam phản ngũ phản, "Cách mạng Văn hoá", những người bị cái đảng mà mình hiến dâng tính mạng hành hạ mình chết đi sống lại ấy mới là những người đau khổ nhất. Chết, chết không được. Sống, sống không thành. Cuối cùng để mất niềm tin và tín ngưỡng, chẳng khác gì cái thây ma biết đi.

Đảng viên cộng sản mất tín ngưỡng thì là cái gì? Hãy nhìn bọn quan tham nhũng hiện nay thì khắc rõ. Bọn chúng tên nào cũng sợ chết, quan càng to càng sợ chết. Thứ trưởng Bộ Công an Lý Kỷ Châu khi bị bắt còn hung hăng lắm. Hắn nói: "Nếu tôi có vấn đề thì phải đem chém đầu một nửa Bộ Chính trị!" Đến lúc chuẩn bị đưa đi xử bắn, hắn quỳ xuống van xin: "Xin cho tôi một con đường sống."

Nguyễn Hải Hoành lược dịch

CŨNG CHỈ CÓ HAI NGƯỜI


Năm tháng qua và ta cũng già đi
Tuổi tác có nghĩa gì trong trái tim không nghỉ
Nếp nhăn có ích gì với tâm hồn rộng mở
Dáng vóc ngoài chẳng vặn khớp tình yêu.
 
Vai xuôi hơn và lưng cũng cong hơn
Màu xanh xưa thay dần màu xám bạc
Hương thơm ẩn quả một thời ngọt chát
Hạt lớn dần thay thế nụ đôi mươi.
 
Ta giấu trong nhau vũ trụ vợi vời
Hàng tỉ năm trong nụ cười gặp mặt
Triệu triệu tình yêu chan đầy ánh mắt
Đắm vào nhau một khoảnh khắc em ơi.
 
Thế giới cuồng quay, ta cũng hai người
Nhân loại nhạt nhòa, ta hòa một cõi
Khắp mọi thiên hà chỉ lời ta gọi
Năm tháng xa vời thành tổ ấm thảnh thơi.
 
20-12-2012
 

Thứ Sáu, 14 tháng 12, 2012


1. Núi chẳng dời thì ta dời!

Một ngày nọ đám đệ tử ham thích thần thông hỏi sư phụ:
- Đệ tử: Thầy ơi, thầy chỉ tụi con thuật di sơn đảo hải (dời non lấp biển) đi.
- Sư phụ: Được, vậy các con hãy đứng đây, chú tâm nhìn vào ngọn núi đằng kia... Thầy sẽ làm cho nó xích lại gần ta.
Đám đệ tử tập trung dòm núi suốt 3 ngày 3 đêm mà chẳng thấy có tác dụng gì cả,... khi thấy sư phụ từ trong nhà thong thả đi ra thì liền nhao nhao lên:
- Đệ tử: Thầy ơi, sao chẳng thấy ngọn núi đó động đậy gì cả vậy?
- Sư phụ: Vô dụng, vô dụng! Các con tu tập bao lâu rồi mà vẫn còn chấp cái ngọn núi!?!
- Đệ tử: Dạ chúng con không hiểu ạ.
- Sư phụ: Vậy thì đi theo ta, ta sẽ chỉ cho thấy.
Sau khi dẫn đám đệ tự cố chấp đến chân núi, sư phụ dừng lại bảo:
- Sư phụ: Các con đã thấy núi xích lại gần ta chưa?
- Đệ tử: Dạ gần, nhưng đó là do Thầy đi đó chứ...
- Sư phụ: Cố chấp, cố chấp! Chẳng phải là núi không thể dời đi, nhưng để dời nó đi một li, ta phải tốn công gấp tỉ lần ta đi tới nó. Vậy sao cứ phải cố chấp vào việc núi dời chi vậy?!


2. Chân lý tuyệt đối là cái lý có chân!

Hôm nọ, một đệ tử thích lôgic hỏi sư phụ:
- Đệ tử: Thưa thầy, con tu tập bao lâu rồi mà vẫn chưa tìm ra được cái chân lý tuyệt đối! :(
- Sư phụ: Vậy từ đó giờ con có thấy cái gì là hoàn toàn đúng không thể chối cãi được không?
- Đệ tử: Dạ có.
- Sư phụ: Con thử kể một cái như vậy ra xem.
- Đệ tử: Dạ, ví như chuyện sanh-tử, không có ai sinh ra đời rồi mà không chết đi cả.
- Sư phụ: Vậy đó chính là chân lý rồi đó thôi.
- Đệ tử: Nhưng thưa Thầy, chân lý đó chưa là tuyệt đối, vì có người nói là có thể trường sinh bất lão. Thậm chí có người còn đưa ra bằng chứng về một người sống suốt mấy ngàn năm nay vẫn chưa chết.
- Sư phụ: Vậy con có tin không?
- Đệ tử: Dạ con không tin, nhưng không có cách nào phản bác họ được.
- Sư phụ: Con tin, tức đó là chân lý của con vậy.
- Đệ tử: Dạ thưa... Nếu chỉ là chân lý của con thì sao gọi là tuyệt đối được ạ?!
- Sư phụ: Cố chấp! Cái "chân lý tuyệt đối" con tìm chẳng qua chỉ là cái lý có chân mà thôi!
- Đệ tử: Dạ, xin thầy giảng cho con được rõ hơn ạ.
- Sư phụ: Này nhé, ta có thể đưa ra một chân lý khác mà nhiều người chấp nhận hơn, và cho đến hết đời này con cũng không tìm ra được ai phản đối nó cả, nhưng đó cũng chẳng thể tuyệt đối như con muốn được. Chân lý là sản phẩm của con người, là phát biểu của con người về thế giới, tất phải phụ thuộc vào người / nhóm người phát biểu nó. Hễ khi nào con còn chấp vào hai chữ "tuyệt đối" thì chẳng bao giờ con tìm ra được chân lý, hoặc là chúng nó phải có chân để chạy đi từ người này qua người khác, từ quan điểm này qua quan điềm khác vậy.

Lời mẹ dặn con gái trước khi đi lấy chồng được lan truyền trên mạng

Sưu tầm từ Internet

Bằng tất cả kinh nghiệm, tình thương và sự lo lắng cho cô con gái bé bỏng sắp phải tự mình bươn trải cuộc sống, người mẹ đã dặn dò con gái từng chi tiết nhỏ nhặt. Việc nhà thu vén ra sao, ứng xử với chồng như thế nào, dạy con thế nào cho tốt…, dường như người mẹ đã nhìn thấy trước tất cả khó khăn mà con gái yêu quý sẽ phải đương đầu.

Mẹ bảo, lúc giận đừng có cãi nhau, có thể không nói gì, không giặt quần áo của chồng, nhưng không được cãi nhau với chồng.

Mẹ bảo, cãi nhau với đàn ông thì đừng có chạy ra ngoài mà oang oang khắp nơi, anh ta tiến về phía con một bước thì con hãy bước về phía anh ta hai bước.

Mẹ bảo, ngôi nhà chính là chỗ đóng quân của người phụ nữ, cho dù có xảy ra chuyện gì thì cũng đừng có bỏ đi. Bởi vì, đường trở về rất khó khăn.


Mẹ bảo, hai người trong nhà đừng có lúc nào cũng chỉ nghĩ đến sĩ diện, hai người sống với nhau, sĩ diện quan trọng lắm sao? Nếu thế thì ra ngoài sống thế nào được?

Mẹ bảo, bất kể một người đàn ông giàu có, nhiều tiền như thế nào thì anh ta vẫn hi vọng có thể nhìn thấy con sạch sẽ thơm tho ở trong một ngôi nhà sạch sẽ tươm tất và đợi anh ta.

Mẹ bảo, đàn ông tốt rất nhiều, anh ta sẽ không bao giờ đi ôm người phụ nữ khác. Nhưng trong cái xã hội như thế này, có rất nhiều phụ nữ xấu sẽ dang tay ra ôm lấy người đàn ông của con.

Mẹ bảo, phụ nữ nhất định phải ra ngoài làm việc, cho dù là kiếm được nhiều hay ít, làm việc chính là sự thể hiện giá trị cuộc sống của bản thân. Nếu con cứ ở nhà mãi, anh ta sẽ có cơ hội nói trước mặt con rằng: “Tôi đang nuôi cô đấy.”

Mẹ bảo, con đi làm bên ngoài, dù có bận lắm là bận thì vẫn phải làm việc nhà, nếu không thì dùng tiền của mình mà tìm một người giúp việc theo giờ. Việc trong nhà nhất định phải lo liệu tốt, con cái cũng phải nuôi dạy cho tốt.

Mẹ bảo, anh ta vì con mà làm những việc mà con không bao giờ ngờ tới, con có thể cảm động, có thể khen ngợi, nhưng nhất quyết không được châm chọc kiểu “hôm nay mặt trời mọc đằng tây rồi hay sao”, vì nếu như vậy, sau này anh ta sẽ không bao giờ làm bất cứ việc gì vì con nữa.

Mẹ bảo, chẳng có ai là một nửa của ai cả, ý nghĩ của con mà không nói ra thì ai mà biết được? Cần cảm nhận cái gì, ghét việc gì, con phải nói ra thì người ta mới hiểu được.

Mẹ bảo, bố mẹ anh ta cũng là bố mẹ con, cho dù bố mẹ anh ta đối xử với con không được tốt cho lắm, thì con cũng phải đối tốt với họ. Bởi họ là bố mẹ của anh ta.

Mẹ bảo, một khi đã quyết định sống cùng người đó rồi, thì đừng có oán thán cuộc sống khó khổ, nếu như con đã chọn anh ta, thì đừng có oán trách anh ta.

Mẹ bảo, nhiều tiền như thế thì có tác dụng gì, anh ta đâu? Anh ta đang ở đâu?

Mẹ bảo, cả đời này chúng ta có thể tiêu hết bao nhiêu tiền? Đừng mua những đồ xa xỉ mà làm gì, sống hạnh phúc là tốt rồi.

Mẹ bảo, đừng có dọa con cái là “mẹ không cần con”, lúc cáu giận đừng có đuổi con cái ra khỏi nhà, chẳng may không thấy nó thật, con sẽ rất đau khổ.

Mẹ bảo, đừng đánh con cái, lại càng không nên lôi ra ngoài mà đánh.

Mẹ bảo, tình yêu mà cứ đánh đấm đâm giết nhau đúng là mãnh liệt thật, cũng rất lãng mạn. Nhưng không thực tế. Cứ bình thường thôi là được.

Mẹ bảo, cái gì thì cũng đều là duyên phận cả.

Mẹ bảo, cuộc sống luôn thay đổi, phải biết trân trọng từng ngày.

Lời khuyên của người mẹ hiểu biết gây sốt cộng đồng mạng


Thứ Năm, 13 tháng 12, 2012

NHỚ MÃI LỜI EM HÁT


Lênh đênh mãi, ta tìm về chốn cũ
Tắm tháng năm qua se đẫm sương hồ
Mệt mỏi quá, ta nhớ thời xưa rủ
Một cõi đi về ru hoài niệm ngây thơ.

Ta mơ lại thuở bốn mùa hạ trắng
Nghe tiếng em buông sóng sánh đường về
Đêm khuya lạnh chợt rơi lời gọi nắng
Nhấp nháy tìm đau đáu nỗi xa quê.

Ta dấn bước trên đường đời ngọt đắng
Trĩu hai vai những quan hệ nhọc nhằn
Chợt bồng bềnh lời em ca sâu lắng
Bỗng thấy mình thanh thản, bâng khuâng.

Trong câu hát có giọt mồ hôi mặn
Chảy qua mắt rơi rã xuống ruộng bùn
Trong nốt nhạc có ngày hè rợp nắng
Thả vào trang lưu bút xa trông.

Ta mơ thấy giấc mơ là thác đổ
Những ngọn lèn xa xoa bóng lòng sông
Ta ngập tắm giữa núi đồi hoa đỏ
Ngắm mắt em say đắm mênh mông.

Em ngừng hát, ta vẫn còn nghe mãi
Trong trái tim, trong sâu thẳm tâm hồn
Ta quay lại với cuộc đời vạn dặm
Lạnh bình minh mà rực nóng chiều buông.

14-12-2012

Thứ Hai, 10 tháng 12, 2012

“Đừng yêu nước bằng máu của người khác!”


Sưu tầm từ baochi.edu.vn


Hiện nay, nhiều bạn trẻ đang hình thành thói quen lên các diễn đàn mạng, blog, mạng xã hội… phát biểu những lời “to tát”, đại ngôn, hô hào “suông” về lòng yêu nước mà quên đi những hành động thực tế…
Đã bao giờ bạn tự nhìn lại: Bạn đã hành động những gì để thể hiện lòng yêu nước? “Đừng yêu nước bằng máu của người khác” là một trong những bài viết gây nhiều tiếng vang nhất trên các diễn đàn internet những ngày vừa qua.
Bài viết của tác giả Bảo Anh Thái đã nêu ra một góc nhìn khác về việc thể hiện lòng yêu nước, khiến chúng ta không thể không suy ngẫm.
BCTT xin đăng tải bài viết để bạn trả lời câu hỏi: Bạn đã hành động thực tế để thể hiện lòng yêu nước của mình như thế nào?

Lòng yêu nước đôi khi chỉ cần thể hiện bằng niềm tự hào và những việc làm giản dị
“Ông ngoại tôi từng cầm mác búp đa, lưng dắt lựu đạn, cắt rào kẽm gai công đồn Pháp cùng với những người lính Nhật Bản tình nguyện theo Việt Minh thời chín năm. Chiến thuật của đơn vị ông rất đơn giản: Cắt rào, ném lựu đạn vô lô cốt và xung phong vào đánh giáp lá cà khi quân Pháp còn chưa hết choáng váng vì tiếng nổ. Ông tôi không kể về những tổn thất của đơn vị.
Khi tôi hỏi ông tôi là trong đơn vị có bao nhiêu lính Nhật, và sau chín năm, bao nhiêu người trong số họ trở về tổ quốc. Ông trả lời “Có chín người, sau chín năm, chẳng có ai trong họ còn sống”. Tôi không biết ngoài chín người Nhật đó, bao nhiêu người khác trong đơn vị ông đã chết.
Tôi hỏi ông: “Đơn vị ông không phải là đặc công (mà thực ra trong thời chín năm, khái niệm đặc công chưa có), sao các ông không dùng bazoka hoặc ít nhất là súng máy áp chế khi công đồn?”
Ông trả lời rất đơn giản là đơn vị ông không có bất kỳ vũ khí hỏa lực mạnh nào. Họ chỉ có 3 súng trường cho một tiểu đội và những người Nhật Bản tình nguyện chỉ dùng kiếm Samurai của họ.
Thời kháng Mỹ, ông tôi động viên con cái đi ra trận. Hai dì tôi đi thanh niên xung phong khi mười sáu tuổi. Sau chiến dịch Đường 9 Nam Lào và Quảng Trị, lần lượt 2 dì về nhà vì mất sức. Cả hai dì đều trọc đầu như sư đến nhiều năm sau tóc mới mọc lại.
Bác tôi, học ở Nga về làm cán bộ giảng dạy Bách Khoa nhưng rồi lại tình nguyện nhập ngũ. Tây Nguyên, Đường 9, Quảng Trị – giấy chứng nhận dũng sỹ diệt Mỹ và dũng sỹ diệt xe cơ giới gấp phồng túi ngực (theo đúng nghĩa đen).
Khi từ miền Bắc vào Nam, bác tôi mang theo 90 viên đạn của cây súng bắn tỉa. Khi giải ngũ, bác đã bắn 52 viên, trong đó 4 viên trượt. Bác tôi và người em kết nghĩa đã bỏ cả ngày trời bò qua cả một cái trảng lớn nằm giữa vùng ranh giới giữa hai bên để bắn một phát đạn với tầm gần 900 m làm bị thương viên tướng chỉ huy một sư đoàn quân đội Sài Gòn trong cuộc họp bộ tham mưu của sư này hồi Quảng Trị năm 1972.
Bác tôi là một trong 16 người cuối cùng rời thành Quảng Trị bơi vượt sông Thạch Hãn và tên của bác tôi có trong viện Bảo tàng Quân đội. Những người chỉ huy trận Quảng Trị nay đang lãnh đạo Bộ Quốc phòng đều nhớ đến bác tôi.
Ông ngoại tôi giờ đã 94 tuổi, bác và các dì tôi đều đã về hưu.
Không một ai đại ngôn về lòng yêu nước.
Thậm chí, tôi chưa bao giờ nghe từ đó trong các câu chuyện của họ.
Đơn giản là họ làm những điều đó.
Khi tôi kể cho bác tôi về một cuốn nhật ký nổi tiếng của một người lính trẻ tuổi hai mươi và ngỏ ý muốn mua một cuốn tặng bác. Bác tôi từ chối và nói với tôi rằng: “Con ạ, nếu mỗi người lính khi ra trận, thay vì viết mà chỉ cần bắn bị thương một kẻ thù thôi, thì miền Nam có thể giải phóng rất lâu trước 1975″.
Khi tôi kể cho bác về những chuyện gần đây trên Biển Đông, bác lẩm nhẩm tính rồi nói “Ác liệt như hồi 72 mà người ta mới vét đến cán bộ tuổi 35. Giờ, nếu không phải đánh lớn trên bộ, chắc bọn con (tôi và các anh con bác) không bị động viên đâu!”
Tôi viết những dòng này vì tôi ngán đến tận cổ những người ngồi trong phòng máy lạnh mà mọi thứ họ viết ra chỉ là chỉ trích. Tôi ngán đến tận cổ việc họ tự cho mình là đang nói lên tiếng nói của một người dân để viết về lòng yêu nước.
Họ chỉ trích, họ mách nước cho Nhà nước làm việc A việc B dù họ biết rằng nếu có nổ súng thì họ sẽ không gửi email gọi con họ bỏ học ở nước ngoài để về nhập ngũ.
Nghĩ đi nghĩ lại, tôi tự hỏi và mãi vẫn không tìm được chỗ nào cho thấy họ đang đại diện cho nhân dân (những người nông dân như ông ngoại tôi, những cán bộ về hưu như bác và các dì tôi) để nói những từ đại ngôn đó.
Những người đại ngôn đó đòi minh bạch về thông tin, đòi nhà nước để cho phải báo cáo này nọ nhưng họ quên mất một điều, hồi chiến tranh, có ngày nào mà nhân dân không nghe đài thống kê về số lượng đạn pháo bắn sang lãnh thộ Việt Nam, ngày nào mà Thông Tấn Xã VN không dịch những bản tin đó sang tiếng Anh cho thế giới biết?
Cả thế giới đều biết, nhưng chỉ có những thanh niên Việt Nam 17-18 phải bỏ trường học mà lên đường giữ nước, và cả nước phải đói ăn đến queo quắt để chiến sỹ tiền duyên có đạn mà bắn.
Nhiều chiến sỹ hải quân đã hy sinh vì tổ quốc – tinh thần yêu nước và hy sinh họ có thừa nhưng họ chưa có đủ vũ khí để chống lại những con tàu lớn.
Những người gác biển không cần những người “đứng” sau lưng bằng những bài viết răn dạy về tình yêu nước trên Facebook.
Những người gác biển cần vũ khí, cần máy bay, cần tên lửa, cần tàu chiến, tàu ngầm. Và những thứ đó chỉ có được khi có tiền.
Nếu có viết, hãy kêu gọi nhà nước phát hành công trái mua vũ khí, và nếu có phát hành, thì hãy mua công trái. Đừng để con em nhân dân đổ máu để cho các bạn lên internet hô hào mình là yêu nước.
Những người nào thích những thứ dân chủ và yêu nước lấp lánh phương Tây, xin hãy đọc lại tác phẩm kinh điển “Gone with the wind” (Cuốn theo chiều gió) để học một cách thực tế hơn về lòng dũng cảm, về tinh thần yêu nước”.
[note]Bạn nghĩ sao về góc nhìn này. Bạn đã thể hiện lòng yêu nước của mình như thế nào? Hãy gửi cho BCTT quan điểm của bạn.[/note]
P.V

Thứ Bảy, 8 tháng 12, 2012

LẠC LỐI MÙA ĐÔNG


Anh muốn gửi em một ít nắng vàng
Nhuốm thêm sâu sắc màu mùa hạ đỏ
Nơi ấy bình yên lối về để ngõ
Lá vàng rơi ướt lại dấu chân em.
 
Mùa thu tàn cho mùa hạ đỏ lên
Gửi đến nhau những thầm thì tiếc nuối
Kỉ niệm đi qua giấc mơ bao buổi
Gắn vào nhau những nốt lặng âm thầm.
 
Ta ngóng về nhau qua lặng dư âm
Ta viết về nhau qua dòng thơ bối rối
Gần lắm rồi và vẫn xa bao nỗi
Hai phương trời chia khoảng lặng dịu êm.
 
Một chút thôi gửi về phía bên em
Chút nắng vàng hong khô mi mộng ước
Bồng bềnh mãi mà không sao tới được
Một màu thơ lạc lối thuở vườn xưa.
 
8-12-2012

TUY HÒA CHIỀU


Cơn gió nào đu trên trên tán lá bàng
Mang hơi ấm nắng chiều đông man mác
Con sóng xô xiêu bến bờ đến bạc
Thả hanh se hong gió cát Tuy Hòa.

 

Ngẩn ngơ chiều và anh bỗng nhận ra
Dáng nón quen lang thang bờ cát trắng
Đôi gánh mòn dấu bờ vai sâu lắng
Thuở ngày xưa rơi nắng đến mỏi mòn.

 

Chiều Tuy Hòa gặp em nhưng lạ chưa
Giấc mơ nhặt lại không còn dĩ vãng
Nét lo toan che một thời lãng mạn
Chỉ rì rào rơi theo lá bàng khô.

 

Mùa đông về theo em những nỗi lo
Cuộc sống thường ngày của thời gian khó
Muốn nói nhiều nên phải đành để ngõ
Chuyện ngày nay cất nón lá ngày mai.

 

Nắng loay hoay ôm theo đỉnh Chóp Chài
Gió bâng khuâng leo Tháp Chàm núi Nhạn
Sóng Đà rằng vỗ mãi bờ vẫn vắng
Đợi em về sắc nắng tím chiều rơi.

 

Gọi Tuy Hòa nhiều qua tiếng em ơi!
Dẫu biết đó, đây không còn bóng ấy
Mai anh về, bịn rịn theo đến vậy
Một chiều mơ một nét nhớ Tuy Hòa.


Tuy Hòa 8-12-2012

Thứ Năm, 6 tháng 12, 2012

GIỮA KHOẢNG LẶNG HAI NGƯỜI

Em đi về nơi ấy chẳng mùa đông
Cơn gió lạnh níu hàng me tiễn biệt
Nắng rắc lên ti-gôn hồng da diết
Kinh thành xưa đổ bóng xuống trầm tư.

Em đi về nơi ấy chốn rừng xa
Để khoảng lặng kéo dài thêm đêm vắng
Con dế buồn rung giọt sương sóng sánh
Soi tìm mơ rơi vãi những lối về.

Hoa sữa chùng hương theo những đam mê
Con đường quen dấu những chiều chờ đợi
Tìm nhạc, thơ trên lá vàng, khoảng lặng
Gói dạt dào trong thấp thoáng vô tư.

Em bây giờ giữa mùa gió, mùa mưa?
Có nghe khoảng lặng chứa đầy bão tố?
Vẻ bình yên giấu nồng nàn thác đổ
Giữ được hai người như mãi thuở đầu tiên?

6-12-2012

Thứ Tư, 5 tháng 12, 2012

Điểm danh những "ngộ nhận cố tình” của Giáo dục VN


sưu tầm từ internet

(Dân trí) - Dẫn ý kiến của một nhà chuyên môn Mỹ phân tích thực trạng ngành GDVN hiện nay, bạn đọc Nguyễn Hữu Tâm (Bà Rịa-Vũng Tàu) lý giải sâu hơn về những “ngộ nhận” của nền GDVN trong nỗ lực vẫy vùng để cải cách, nâng cao chất lượng.
 
Tháng 11/2008, trong khuôn khổ chương trình Bồi dưỡng lãnh đạo các trường đại học, cao đẳng Việt Nam, đoàn tham quan và học tập kinh nghiệm các trường đại học, cao đẳng ở Hoa Kỳ do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức đã đến thăm Đại học Harvard. Đoàn được trường tiếp đón và báo cáo một chuyên đề nghiên cứu về hệ thống giáo dục ở Việt Nam.

Người báo cáo là GS Thomas J.Vallely, Giám đốc Chương trình Việt Nam của Đại học Harvard. Ông chỉ ra rằng: sở dĩ nền giáo dục Việt Nam hiện nay còn gắng gượng, chưa sụp đổ (chữ dùng của GS) là do các yếu tố:

 + Một là sự bùng nổ internet ở Việt Nam trong những năm gần đây. Sở dĩ GS có kết luận trên là do nhà trường phỏng vấn thí sinh Việt Nam đăng ký vào Đại học Harvard. Các thí sinh nói đã khai thác được kho tàng internet để tìm kiếm thông tin và học tập tốt. Trong nhóm được phỏng vấn, chỉ có khoảng 1% hạn chế về vấn đề này.

 + Hai là nhờ truyền thống hiếu học. Có thể nói, xã hội Việt Nam là một xã hội hiếu học và đặt giá trị của giáo dục rất thiêng liêng. Các bậc phụ huynh sẵn sàng đầu tư cho việc học tập của con cái mình về cả về vật chất lẫn tinh thần.

+ Ba là kỳ thi tuyển sinh đại học ở Việt Nam được tổ chức khá nghiêm túc. Và do vậy,Việt Nam hầu như tuyển được những người có thực lực.

Tuy nhiên, GS cũng chỉ ra những “ngộ nhận” của nền giáo dục Việt Nam trong nỗ lực vẫy vùng để cải cách, nâng cao chất lượng. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi muốn lý giải sâu hơn về các ngộ nhận do GS chỉ ra.

1. Cứ đạt chuẩn là… có chất lượng:

 Sản phẩm hàng hóa trước khi tung ra thị trường trong và ngoài nước bao giờ cũng qua khâu kiểm định chất lượng một cách rất nghiêm ngặt và chặt chẽ. Các chỉ số về chất lượng của hàng hóa làm nên thương hiệu của sản phẩm. Người kiểm định chất lượng không phải là nhà sản xuất, mà là một cơ quan độc lập. Thế là thuật ngữ “đạt chuẩn” ra đời. Thuật ngữ này dần lấn sân sang lãnh vực khác, đặc biệt là Giáo dục.

Trường đạt chuẩn Quốc gia, chuẩn ISO, chuẩn Quốc tế, rồi chuẩn Hiệu trưởng, chuẩn giáo viên, chuẩn học sinh, chuẩn lên lớp, chuẩn kiến thức kỹ năng…Muôn vàn cái chuẩn đang hàng ngày, hàng giờ sinh sôi, nảy nở trong từng tế bào, thớ thịt của cơ thể Giáo dục. Chúng hành hạ, làm hao tổn sức lực con người, gây lãng phí tiền của Nhà nước.

Mỗi một “chuẩn” được học tập từ nước ngoài về được các chiến lược gia giáo dục nhào nặn lại cho phù hợp với thể trạng con người, phù hợp với vùng miền, phù hợp với tình hình đất nước…nói chung là phù hợp với nền giáo dục truyền thống của dân tộc. Thế là Thông tư này, Chỉ thị kia, Quyết định nọ được thay nhau…Sau đó là một đội ngũ giáo viên khăn gói lên đường tập huấn. Từ nay có chuẩn rồi nhé! Cứ thế mà làm.

Hành trình “đi tìm Chuẩn” trong giáo dục đơn giản chỉ là thế. Sự giản đơn để làm dễ hiểu một vấn đề phức tạp trong học thuật là năng khiếu của sự truyền đạt. Tuy nhiên, đơn giản hóa một cách làm để mong có kết quả tốt đối với vấn đề hệ trọng của đất nước, thì tôi e là thật… lâm nguy. Chuẩn mà giáo dục đang áp dụng tràn lan là một liệu pháp tinh thần, nhằm trấn an dư luận về tình trạng xuống dốc của giáo dục nước nhà mà thôi. Chứ thực tế là nó càng làm cho bức tranh của ngành đã rối lại càng rối.

Thực tế các tiêu chuẩn mà chúng ta học tập được từ nước ngoài là nguồn tư liệu quý giá mang tính định hướng. Ở đất nước bạn, đơn vị đứng ra để đo đạc các tiêu chí đó là cơ quan kiểm định chất lượng độc lập, có uy tín, được xã hội tin tưởng đặt niềm tin. Vì vậy, những kết luận của họ được thừa nhận tuyệt đối. Kết luận của các cơ quan kiểm định khách quan này đối với bất kỳ một cơ sở giáo dục nào, luôn được mọi người quan tâm. Nó có thể là một lời khẳng định thương hiệu, cũng có thể là dự báo cần phải thay đổi, thậm chí người đứng đầu giáo dục phải từ nhiệm.

Còn chúng ta, áp dụng chuẩn hết sức máy móc, đơn điệu, người làm cũng là người kiểm định chất lượng. Chúng ta ngộ nhận tai hại rằng kiểm định chất lượng là liều thuốc có thể chữa bách bệnh mà quên rằng nó chỉ là công cụ, chưa nói công cụ đó phải được giao vào tay ai trong cuộc chiến phân định trắng/đen của chất lượng.

 Kết luận về Chuẩn của một cá nhân hay tập thể trong ngành giáo dục là cực kỳ quan trọng. Trường này đạt chuẩn, trường kia chưa đạt, giáo viên này chuẩn, hiệu trưởng kia chỉ loại trung bình…Các kết luận như vậy mặc nhiên và nhan nhản, không tác động mảy may gì đến đối tượng được kết luận. Vì chúng ta chưa có những chế tài thật sự.

Vậy thì nguồn căn của sự thành bại trong áp dụng chuẩn là tính nội tại bên trong, điều này được ví như “tốt gỗ hơn tốt nước sơn”, như vẻ đẹp lung linh về tâm hồn. Tại sao chúng ta máy móc cứ chạy theo chuẩn, phải đạt chuẩn, trên chuẩn mà chúng ta không quan tâm đến nỗi hổ thẹn, tính tự chịu trách nhiệm của những người quản lý giáo dục?

Nếu các cơ sở giáo dục nhiệt tình, có trách nhiệm, có tâm, suốt cuộc đời gắn bó và cống hiến cho sự nghiệp mình đã chọn, thì tôi nghĩ việc đạt chuẩn và trên chuẩn là rất bình thường. Vì vậy, việc có chế tài sau khi kiểm định cộng với việc tăng cường hơn nữa tính tự chịu trách nhiệm của những người đứng đầu các cơ sở giáo dục, theo tôi nghĩ, là then chốt làm nên chất lượng giáo dục.

Còn hiện nay, giữa các cơ sở giáo dục vẫn còn tình trạng “cá mè một lứa”. Tình trạng này là vấn nạn âm ỉ, vô hình nhưng có tác dụng ghê gớm làm nản lòng những nhà giáo dục chân chính.

2. Đầu tư nguồn lực vật chất để mong thay đổi chất lượng giáo dục

Để cứu một ngân hàng đang trên bờ vực phá sản, những người có trách nhiệm thường dùng giải pháp “bơm” tiền. Để nâng mức sống cho người dân, nhà nước thường đầu tư chung cư, nhà cho người thu nhập thấp, đường sá, bệnh viện, trường học…Nói chung dùng nguồn lực vật chất để làm đòn bẩy mong tạo ra cái mới có chất lượng hơn.

 Đầu tư về vật chất là dễ dàng như cấp nhà cho người nghèo, như hỗ trợ ODA không hoàn lại. Nhưng nếu nghĩ rằng đầu tư cơ sở vật chất cho nhà trường để ngay lập tức chất lượng được nâng lên, theo tôi, là quan điểm quá ngộ nhận của những nhà quản lý của chúng ta hiện nay.

Đã bao giờ chúng ta thử tìm câu trả lời cho những thắc mắc: tại sao những con ngoan trò giỏi, những thủ khoa đại học phần đông là con của người dân lao động, có gia cảnh khó khăn? Cơ sở vật chất của các trường phổ thông ở phía Bắc nhìn chung còn thua xa các trường ở phía Nam, nhưng chất lượng đỗ đại học các trường phía Bắc vẫn hơn hẳn phía Nam? Cả nước có gần cả trăm trường THPT chuyên, được đầu tư cơ sở vật chất rất khang trang và hiện đại…nhưng có tỉnh vẫn thật sự chưa thu hút học sinh vào học, thực tế này nói lên điều gì ?

 Đứng trước ngộ nhận tai hại đó, tại “ Hội thảo khoa học tri thức thủ đô với việc đổi mới căn bản toàn diện giáo dục Việt Nam giai đoạn 2012-2020” được tổ chức ngày 29/9/2012 tại Hà Nội, PGS. TS Khổng Doãn Điền đã chỉ ra: Giáo dục trong những năm chiến tranh với điều kiện rất khó khăn nhưng một thế hệ học trò vẫn trưởng thành và thành đạt : “Hồi đó dù trường không ra trường, lớp không ra lớp nhưng vì thầy ra thầy nên trò ra trò”. Ông Điền còn đề nghị việc đổi mới giáo dục phải nên từ yếu tố con người.

 Đúng vậy, chất lượng giáo dục phải xuất phát từ yếu tố con người. Người thầy là quan trọng nhất. Đầu tư cho nguồn lực vật chất, chương trình, sách giáo khoa cho giáo dục là cần thiết nhưng chưa cấp thiết, là điều kiện cần nhưng chưa đủ, chỉ đủ làm nên hình hài chứ chưa làm nên cốt cách tâm hồn. Ngoài ra, việc ngộ nhận này còn xuất phát từ tâm lý của các cấp lãnh đạo muốn xây dựng trường lớn, trường đạt chuẩn…và điều này càng thôi thúc các nhà quản lý nhà nước hơn, khi mà vấn nạn tham nhũng vẫn chưa được đẩy lùi.

 
3. Muốn có chất lượng phải cải cách từ từ

 Giáo sư Thomas J.Vallely cho rằng việc giáo dục Việt Nam chậm đổi mới có nguyên nhân từ một số vị giới chức cấp cao. Ông dẫn ra dẫn chứng khá mỉa mai: "Mỗi lần tôi gặp một quan chức Việt Nam đề cập đến việc cải cách, thì đều nhận được câu trả lời “sẽ cải cách từ từ”. Và nếu mỗi lần như vậy cho tôi 1 đô la, thì bây giờ tôi đã là người giàu có…"

Việt Nam không thiếu người am hiểu về Giáo dục, có thể khẳng định như vậy. Tuy nhiên, chúng ta thiếu người biết lắng nghe, điều này là một thực tế. Từ đầu năm 2000 đến nay có rất nhiều kiến nghị, góp ý nhằm chấn hưng nền giáo dục nước nhà. Nhiều ý kiến tâm huyết, kết tinh của quá trình nghiên cứu khoa học không mệt mỏi của các trí giả trong và ngoài nước. Các đề án kiến nghị được soạn thảo rất công phu, mang tính khoa học và thực tiễn cao của các học giả nổi tiếng được gửi đến cơ quan Đảng và Nhà nước như:

 + của Giáo sư Hoàng Tụy và các cộng sự: Đề án “Kiến nghị của hội thảo về chấn hưng, cải cách, hiện đại hóa giáo dục”.

 + của trí giả Việt kiều Vũ Quang Việt và cộng sự: Đề án “Sử dụng trí thức Việt kiều để xây dựng giáo dục đại học chất lượng cao tại Việt Nam”.

Và hàng loạt những nhà khoa học khác có am tường về Giáo dục Việt Nam như : Nguyễn Đăng Hưng, Nguyễn Quang A, Nguyên Ngọc, Phan Đình Diệu, Phạm Phụ, Phạm Toàn..v.v. thay nhau đăng đàn, thuyết giáo.


Đổi lại, các nhà lãnh đạo “vẫn bình chân như vại”, “người nói cứ nói và người làm cứ làm”, họa hoằn lắm mới có người nhếnh mép “phải thay đổi từ từ”.

 Và để xoa dịu dư luận về sự xuống cấp của Giáo dục, lâu lâu chúng ta lại “hâm nóng” đề tài này bằng các cuộc hội thảo quy mô, như Hội thảo vừa rồi của trí thức Thủ đô với việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục VN giai đoạn 2012-2020.


Một bức tranh xám màu của giáo dục lại có dịp để vén tấm màn che lên, gây nhức nhói, đau buốt bằng những nhận định của những nhà khoa học hàng đầu trong lĩnh vực giáo dục như:

+ GS Chu Hảo: “ Nền giáo dục của chúng ta hiện nay không phải là lạc hậu (đi đúng hướng nhưng đi chậm) mà là lạc đường”.

 + GS Hoàng Xuân Sính “vẽ” cụ thể một bức tranh trải ra trước mắt: Hệ phổ thông với thầy và trò suốt ngày dạy thêm học thêm. Hệ ĐH với những sinh viên chỉ muốn xả hơi sau 12 năm gò lưng trên bàn học, đến mùa thi thì thì “đi thầy” để có bảng điểm tốt. Và một danh sách dài những gia đình chán ngán giáo dục nước nhà, tìm cách cho con ra nước ngoài học...

 Có thể nói trong 12 năm từ tiểu học đến hết THPT - giáo dục của Việt Nam chỉ làm được việc dạy kiến thức, còn việc dạy người thì chưa làm được gì. GS Hoàng Tụy khẩn thiết: “Sau mấy chục năm giáo dục chìm đắm trong khủng hoảng triền miên bởi các ràng buộc ý thức hệ cứng nhắc, đã đến lúc phải có lựa chọn. Hoặc là tiếp tục con đường cũ, tiếp tục giam hãm đất nước trong nền giáo dục ngày càng tụt hậu so với thế giới. Hoặc là cương quyết thay đổi tư duy - thực hiện bước ngoặt cơ bản, mở đường cho một giai đoạn giáo dục khai phóng phát triển” (trích báo Dân trí, ngày 01/10/2012).

 Nhưng tôi tin chắc rằng, sau hội thảo vấn đề vẫn… trở lại như cũ. Có chăng là một vài động thái nhỏ, mang tính “cải cách từ từ” lại tiếp diễn,đại loại như: đổi mới chương trình sách giáo khoa, rồi thí điểm, phân luồng mạnh mẽ, tăng đầu tư ngân sách…

 4. Cách tuyển chọn và quản lý nhân sự hiện nay

 Nếu con người là nhân tố quyết định mọi sự thành bại thì nền Giáo dục đã xác định đúng trọng tâm. Nhưng cách làm của chúng ta hoàn toàn không thể chấp nhận được. Chẳng hạn, tiêu chuẩn lý lịch gia đình là không thể có chỗ đứng trong khoa học. Hay ông hiệu trưởng mà không có quyền sa thải một cô tạp vụ rót trà thì rất khó nói đến việc nâng cao chất lượng.

Chất lượng chuyên môn là ưu tiên hàng đầu để tuyển chọn con người làm giáo dục, bất kể người đó là người địa phương hay địa phương khác, người đó trong đảng hay ngoài đảng, người đó trong lãnh thổ Việt Nam hay nước ngoài… Miễn cá nhân đó giỏi về chuyên môn, học thuật và am hiểu về tâm sinh lý con người. Khi chúng ta có trong tay những công cụ, “vũ khí” sắc bén nhất, chúng ta mới nghĩ đến mục tiêu chinh phục, nghĩ đến kết quả đạt được, nghĩ đến sản phẩm của ngành giáo dục.

Chúng ta nên nhớ sản phẩm của giáo dục là con người, mà con người trong thời đại hôm nay khác với con người trong quá khứ. Con người - sản phẩm làm ra của bất cứ nền giáo dục nào trên thế giới đều phải là con người toàn cầu (hay “công dân toàn cầu” chữ dùng của ông Lý Quang Diệu).

 Thấm nhuần về việc sử dụng con người, GS Thomas J.Vallely cho rằng; Việt Nam phải đổi mới nhân sự trong giáo dục mới có thể nâng cao chất lượng giáo dục. Nếu không làm điều này, Việt Nam khó có thể đổi mới đạt hiệu quả được. Việt Nam có nhiều nhà khoa học trẻ rất giỏi, họ đã rất thành công trong và ngoài nước. Cần dành chỗ đứng cho nhân sự khoa học. Mặc dù Nhà nước phải đóng vai trò chủ chốt trong giáo dục, nhưng phải đổi mới về vấn đề này.

 Tôi nhớ không nhằm trong Đại hội Đảng gần đây ở Trung Quốc, nước bạn nêu rõ quan điểm về nhân sự ở vị trí Bộ trưởng của các ngành chuyên về công nghệ, về thông tin truyền thông…không nhất thiết là người trong đảng. Một quan điểm rất rõ ràng. Người có trình độ chuyên môn cao cần phải được trọng dụng.

 Việt Nam những năm gần đây cũng có chuyển mình trong việc tuyển chọn nhân sự cho ngành giáo dục, nhưng tư tưởng sính bằng cấp, người địa phương vẫn còn tồn tại. Thực tế đó dẫn đến việc những người lãnh đạo giáo dục không thực tài, thiếu tầm nhìn. Điều này cũng lý giải vì sao nhiều hiến kế cách tân giáo dục vẫn chìm vào quên lãng. Giáo dục xuống dốc có nguyên nhân từ sự khủng hoảng một thời gian dài về nhân sự, về cách dùng người trong giáo dục.

 Nói tóm lại, các ngộ nhận được GS trường Đại học Harvard nêu ra ở trên rất dễ nhận thấy trong nền giáo dục Việt Nam. Tuy nhiên các cơ quan chức năng, những người chịu trách nhiệm vì lý do “tế nhị” nào đó, họ ngụy biện bằng những mỹ từ cố tình che đậy một sự thật…Phải chăng là “lợi ích nhóm” mà Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra? Nếu đúng vậy, thì những ngộ nhận về chất lượng giáo dục Việt Nam mà chúng ta đang dày công vun đắp là những ngộ nhận mang tính “cố tình”?

 

Nguyễn Hữu Tâm tamgvthpt@yahoo.com

Và còn một vấn đề nữa cần bổ sung là

Sự ôm đồm thái quá của tư duy

Việt nam sử dụng khẩu hiệu cải cách giáo dục, cải cách triệt để, phải nâng cao chất lượng giáo dục…Nhưng chất lượng giáo dục là gì, nó gồm những cấu thành nào, mỗi cấu thành cần thực hiện như thế nào thì không ai nói đến hay chịu nói đến. Đó là ảnh hưởng tâm lý của kiểu làm việc theo phong trào, tâm lý hay hệu ứng đám đông đã đi sâu vào tư duy người Việt hiện nay do sự giáo dục phiến diện. Để thực hiện một vấn đề cụ thể thì cần mổ xẻ, quan sát, thu thập thông tin, đánh dấu, đánh giá, phân tích, đưa ra cách thức kiến trúc chi tiết, kiểm tra theo qui trình, tổng hợp kiến thức về vấn đề, phân chia thứ bậc cho người thực hiện… thì người Việt nam lại chọn phương án một người ôm hết, sau đó thuê lại. Từ đó dẫn đến hậu quả làm theo lối ăn xổi ở thì, sai lầm vì "đi tắt đón đầu". Những khẩu hiệu "rút ngắn tiến độ", "thi đua lập thành tích chào mừng…", "đi tắt đón đầu", "vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy"…v.v chính là những nguyên nhân đẩy tư duy chúng ta đến chỗ phá sản toàn bộ.

6-12-2012